Bản án 16/2018/HS-PT ngày 10/04/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 16/2018/HS-PT NGÀY 10/04/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 10-4-2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 22/2018/TLPT-HS ngày 09 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Thọ T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2018/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thọ T (tên gọi khác: Không) sinh ngày 07 tháng 01 năm 1961 tại Thái Bình. Nơi cư trú: Tổ dân phố 3, thị trấn Phố L; huyện Bảo T, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 7/10; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Thọ B và bà Nguyễn Thị P (đều đã chết); có vợ Bùi Thị T và 02 con (lớn sinh năm 1997 và nhỏ sinh năm 2000); tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Tại bản án số 19/HSST ngày 20 tháng 5 năm 1998 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai đã xử phạt bị cáo 09 tháng tù cho hưởng án treo và 01 triệu đồng về tội “đánh bạc” (đã được xóa án tích); bị cáo bị bắt tạm giam ngày 10 tháng 10 năm 2017; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 10 tháng 10 năm 2017, tại thôn Đồng Đ, xã Âu L, thành phố Y,tỉnh Yên Bái, Nguyễn Thọ T bị công an thành phố Yên Bái kiểm tra phát hiện và thu giữ tại túi quần bên phải, phía trước của Nguyễn Thọ T đang mặc 01 gói nilon mầu đen bên ngoài được buộc bằng dây nịt mầu vàng, bên trong có chứa chất ma túy nghi là Heroine, khám xét nơi ở, đồ vật đối với Nguyễn Thọ T tại tổ dân phố 3, thị trấn Phố L, huyện Bảo T, tỉnh Lào Cai đã thu được 01 gói giấy mầu trắng nghi bên trong có chứa chất ma túy Heroine tại ngăn kéo phía dưới bên trái tủ hai buồng gỗ phòng chính.

Nguyễn Thọ T thừa nhận do bản thân nghiện chất ma túy nên vào ngày 09/10/2017, T đã mua 01 gói ma túy của một người phụ nữ khoảng 50 tuổi nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực sân vận động thị trấn Phố L, huyện Bảo T, tỉnh Lào Cai với giá 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) với mục đích sử dụng. T đã sử dụng được một ít, còn lại cất giấu trong người và nơi ở với mục đích sử dụng dần cho bản thân. Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 10/10/2017, T đi xe khách đến khu vực thôn Đồng Đ, xã Âu L, thành phố Y, tỉnh Yên Bái xuống xe thì bị công an thành phố Yên Bái kiểm tra và bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 199/GĐMT ngày 17 tháng 10 năm 2017; số 200/GĐMT ngày 18 tháng 10 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái đã kết luận:

- Chất bột nén mầu trắng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Thọ T có tổng trọng lượng 25,71 gam là ma túy, loại Heroine.

- Chất bột nén mầu trắng thu giữ khi khám xét tại nơi ở của Nguyễn Thọ T có tổng trọng lượng 0,21 gam là ma túy, loại Heroine.

Tại bản án số 01/2018/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái đã xét xử như sau:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thọ T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Nguyễn Thọ T 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 10 năm 2017.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm, tuyên quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 09 tháng 02 năm 2018, bị cáo Nguyễn Thọ T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm (b) khoản (1) Điều 355; điểm (c) khoản (1) Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội, sửa bản án sơ thẩm về việc áp dụng pháp luật; áp dụng điểm (g) khoản (2) Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm (p) khoản (1) và khoản (2) Điều 46 Bộ luật Hình sự  năm 1999, xử phạt bị cáo từ 07 đến 08 năm tù.

Ý kiến của bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thọ T thành khẩn khai báo, lời khai và nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vậy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 10 tháng 10 năm 2017, tại thôn Đồng Đ, xã Âu L, thành phố Y, tỉnh Yên Bái bị cáo Nguyễn Thọ T đã có hành vi tàng trữ 25,71 gam ma túy loại Heroine và tàng trữ 0,21 gam ma túy loại Heroine tại nơi ở của mình để sử dụng cho bản thân. Hành vi tàng trữ 25,92 gam ma túy loại Heroine của bị cáo đã cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và nay là Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, tội phạm và vi phạm pháp luật khác, vì vậy Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đã xét xử và tuyên bố bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo: Về hình thức bị cáo làm đơn trong hạn luật định nên cần được chấp nhận. Về nội dung kháng cáo: Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra cho xã hội, đã xem xét nhân thân của bị cáo, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình sự để xử phạt bị cáo là tương đối phù hợp.

Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm đã có nhầm lẫn trong việc áp dụng pháp luật gây bất lợi cho bị cáo. Tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, tại điểm b khoản 1 Điều 2 đã quy định các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định hình phạt nhẹ hơn…thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018. Đối chiếu với quy định của hai điều luật thì Hội đồng xét xử nhận thấy tại khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 khung hình phạt nhẹ hơn so với khung hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999, vì vậy cần phải áp dụng điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo.

[4] Từ những phân tích và lập luận nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo và ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tại phiên tòa, sửa một phần bản án sơ thẩm.

[5] Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thọ T được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; sửa bản án sơ thẩm số 01/2018/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái về phần quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thọ T phạt  bị cáo Nguyễn Thọ T 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 10 tháng 10 năm 2017.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Nguyễn Thọ T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Về các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


117
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về