Bản án 161/2020/HSPT ngày 01/12/2020 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 161/2020/HSPT NGÀY 01/12/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 01/12/2020 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 229/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo Khúc Văn D, do có kháng cáo của bị cáo Khúc Văn D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2020/HSST ngày 18/08/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Khúc Văn D, sinh năm 1990. Tên gọi khác: Không có.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện Lg, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Bố đẻ: Khúc Duy N (đã mất); Mẹ đẻ: Hoàng Thị H, sinh năm 1967; Gia đình có 03 anh em, bản thân là thứ hai; Vợ, con: Chưa có. Nhân thân: Bản án số 58/2015/HSST ngày 22/7/2015 của Tòa án nhân dân Th phố Lạng Sơn xử phạt Khúc Văn D 05 năm tù về tội "Vận chuyển hàng cấm”. D đã chấp hành xong hình xong tiền phạt và án phí. Ngày 01/11/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc ra quyết định số 05/2017/QĐ-CA về việc miễn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo. Tiền án: Bản án số 70/2018/HSST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt Khúc Văn D 10 tháng tù về tội "Trộm cắp T sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/6/2019. Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 55A/QĐ- XPVPHC ngày 29/6/2014 của Trưởng Công an phường Dĩnh Kế, Th phố Bắc Giang phạt Khúc Văn D về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hình thức phạt tiền: 500.000đ. D chưa nộp tiền phạt.

- Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2020. Hiện đang giam ở Nhà tạm giữ Công an huyện Lạng Giang – Có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại và một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trưa ngày 30/04/2020, Khúc Văn D, sinh năm 1990 trú tại Thôn T, xã T, huyện Lg đang ở nhà thì có Phạm Văn T, sinh năm 1986 ở thôn T, thị trấn V, huyện L đi xe mô tô nhãn hiệu Jupiter màu sơn đen (T khai không nhớ biển kiểm sát của xe) đến chơi. Tại đây, D có hỏi mượn xe mô tô trên của T để đi có việc, T đồng ý và ở lại nhà D đợi. Sau khi mượn được xe của Tài, D điều khiển xe mô tô đi xuống khu vực xã X, huyện L để xem có nhà dân nào sở hở thì trộm cắp T sản, mục đích là để tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng. Khi D đi đến thôn N, xã X, huyện L, D nhìn thấy nhà chị Đoàn Thị X, sinh năm 1980 cửa mở, không có ai trong nhà. Quan sát xung quanh không có ai, D liền dừng xe đi bộ vào trong nhà chị X để tìm T sản trộm cắp. Khi đi vào đến nhà chị X, cạnh cửa đi vào (theo hướng từ ngoài vào), D nhìn thấy trên giá gương treo ở góc nhà có để 01 điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO F5, màu vàng nhạt, D trộm cắp chiếc điện thoại đút vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi thẳng ra ngoài lấy xe mô tô đi về nhà. Sau đó, D mang điện thoại xuống quán “Sunny” ở xã T, huyện L gặp anh Trương Văn Th, sinh năm 1989 ở thôn C, xã D, huyện L. Tại đây, D nói với anh Th “anh cho em cầm cố chiếc điện thoại và cho em vay 1.000.000 đồng, vài ngày sau em trả tiền rồi lấy lại chiếc điện thoại”, Th đồng ý cho D vay 1.000.000 đồng. Số tiền này D đã tiêu xài cá nhân hết. Khoảng hai ngày sau, D sử dụng phần mềm “Zalo” nhắn tin nhờ anh Th bán hộ D chiếc điện thoại mà D trộm cắp, Th đồng ý. Ngày 06/5/2020, D đã đến Công an xã Xương Lâm đầu thú và giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, vỏ màu đen cũ đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận định giá T sản số 49 ngày 06/5/2020 của Hội đồng định gi trong tố tụng huyện Lạng Giang kết luận: "01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F5 màu vàng nhạt có số IMEI1: 867458038125193, số IMEI2:

867458038125185 có giá 3.000.000 đồng”.

Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2020/HSST ngày 18/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

- Tuyên bố: Bị cáo Khúc Văn D phạm tội "Trộm cắp T sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Khúc Văn D 01 (Một) năm tù. Thời gian thụ hình được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 06/5/2020.

Ngày 27/8/2020 bị cáo Khúc Văn D kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng xin giảm hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Khúc Văn D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của mình và trình bày: Án sơ thẩm xử bị cáo là đúng, không oan, hành vi của bị cáo như án sơ thẩm xác định là đúng. Tuy nhiên bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới là đi nghĩa vụ quân sự. Do vậy bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Án sơ thẩm xử các bị cáo là đúng người đúng tội và không oan.Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới là giấy xác nhận việc xuất ngủ thuộc khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên cấp sơ thẩm xét xử bị cáo 12 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm. Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên xác định là đơn kháng cáo hợp pháp, được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo thấy:

+ Về tội danh: Buổi chiều ngày 30/4/2020, tại nhà ở của chị Đoàn Thị X, sinh năm 1980 ở thôn N, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Khúc Văn D lợi dụng nhà chị X không có ai ở nhà nên đã trộm cắp của chị X 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F5 màu vàng nhạt có số IMEI1: 867458038125193, số IMEI2:

867458038125185, đã qua sử dụng. Tổng giá trị T sản D trộm cắp là 3.000.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm và vật chứng đã được thu giữ, phù hợp với các T liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2020/HSST ngày 18/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xét xử đối với bị cáo Khúc Văn D về tội “Trộm cắp T sản” theo khoản 1 Điều 173 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

+ Về hình phạt: Trong lần phạm tội này bị cáo chiếm đoạt T sản có trị giá 3.000.000 đồng. Cấp sơ thẩm đã xem các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử bị cáo 12 tháng tù là đã cho bị cáo hưởng khoan hồng. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới thuộc khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là đi nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về hành vi trộm cắp T sản nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân, chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục nên cần phải nghiêm trị. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo theo như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Khúc Văn D phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

[1]. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Khúc Văn D, giữ nguyên bản án sơ thẩm:

- Tuyên bố: Bị cáo Khúc Văn D phạm tội "Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Khúc Văn D 01 (Một) năm tù. Thời gian thụ hình được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 06/5/2020.

[2]. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Khúc Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


2
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 161/2020/HSPT ngày 01/12/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:161/2020/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bắc Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:01/12/2020
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về