Bản án 161/2020/HNGĐ-ST ngày 12/02/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 161/2020/HNGĐ-ST NGÀY 12/02/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 12 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 275/2019/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2019, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2020/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phan Quốc D, sinh năm 1975 Địa chỉ: Đường T, phường Q, Quận N, Thành phố H.

Bị đơn: Bà King Thyda S, sinh năm 1978. Quốc tịch: Canada Địa chỉ: 5347 Earles St Vancouver BC V5R 3S2 Canada.

(Các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 14/3/2019, bản tự khai ngày 25/6/2019 của nguyên đơn ông Phan Quốc D trình bày:

Ông và bà King Thyda S tự nguyện kết hôn vào năm 2013 theo giấy chứng nhận kết hôn số 1553, Quyển số 8 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/6/2013. Sau khi kết hôn, ông và bà King Thyda S không chung sống cùng với nhau do bà King Thyda S phải quay trở về Canada sinh sống và làm việc. Sau khi bà King Thyda S về Canada do tính chất địa lý và múi giờ của hai nước khác nhau nên hai bên không thường xuyên liên lạc với nhau. Vào năm 2017 ông có khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà King Thyda S, sau đó hai bên hòa giải, ông đã rút đơn khởi kiện ly hôn để hai bên có cơ hội hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, trong thời gian này ông và bà King Thyda S thường xảy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn và đời sống chung không hòa hợp, bà King Thyda S đã quay trở về Canada và cũng không quay về Việt Nam. Nay ông và bà King Thyda S mỗi người sống một nơi, điều kiện sống chung không có, tình cảm không được vun đắp, khả năng đoàn tụ gia đình không còn. Do đó, ông làm đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu được ly hôn với bà King Thyda S để có điều kiện ổn định cuộc sống.

Về con chung: Ông Phan Quốc D khai không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Phan Quốc D khai không có.

Tại bản tự khai của bị đơn bà King Thyda S đề ngày 31/12/2019 được Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Vancouver, Canada chứng thực chữ ký ngày 31/12/2019 có nội dung như sau: Bà và ông Phan Quốc D tự nguyện kết hôn vào năm 2013 theo giấy chứng nhận kết hôn số 1553, Quyển số 8 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/6/2013.

Sau khi kết hôn về quá trình sống chung và mâu thuẫn bà thống nhất như trình bày của ông Phan Quốc D. Hiện nay bà đang sinh sống và làm việc tại Canada còn ông Phan Quốc D đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Điều kiện sống chung không có, tình cảm không được vun đắp, không có khả năng đoàn tụ gia đình. Nay bà nhận thấy hiện nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt đđược. Bà được biết ông Phan Quốc D yêu cầu ly hôn với bà Về quan hệ hôn nhân: Bà đồng ý ly hôn với ông Phan Quốc D. Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết Về tài sản chung và nợ chung : Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm : Nguyên đơn ông Phan Quốc D, bị đơn bà King Thyda S đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý sơ thẩm và xét xử. Về phía các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Ông Phan Quốc D khai không còn tình cảm với bà Kinh Thyda Soth, cuộc sống chung không hạnh phúc, bà King Thyda S cũng có ý kiến đồng ý ly hôn nên yêu cầu của ông Phan Quốc D là có cơ sở chấp nhận. Về con chung, tài sản chung và nợ chung ông Phan Quốc D và bà King Thuda Soth khai không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết :

Nguyên đơn ông Phan Quốc D đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, bị đơn bà King Thyda S đang cư trú tại Canada, giữa đôi bên có tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 2 Điều 37 ; điểm a khoản 2 Điều 38 ; Điều 464 ; Điều 465 ; điểm g khoản 1 Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 122 ; Điều 123 ; Điều 124 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về sự có mặt của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm :

Nguyên đơn ông Phan Quốc D, bị đơn bà King Thyda S đều có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung :

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Nguyên đơn ông Phan Quốc D, bị đơn bà King Thyda S tự nguyện kết hôn vào năm năm 2013 theo giấy chứng nhận kết hôn số 1553, Quyển số 8 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/6/2013. Như vậy hôn nhân giữa đôi bên là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Theo lời khai của đôi bên thì Sau khi kết hôn, ông và bà King Thyda S không chung sống cùng với nhau do bà King Thyda S phải quay trở về Canada sinh sống và làm việc. Do thiếu sự quan tâm lẫn nhau, thiếu sự tôn trọng và tin tưởng giữa đôi bên. Đồng thời, quan điểm và suy nghĩ khác biệt nên tình cảm vợ chồng dần lạnh nhạt, không thể hàn gắn tình cảm. Ông Phan Quốc D xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục cuộc hôn nhân và có yêu cầu được ly hôn. Ý kiến của bà King Thyda S cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông Phan Quốc D.

Xét, về tình nghĩa vợ chồng phải xuất phát từ cả hai phía cùng có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau. Thực tế vợ chồng đã không còn sống cùng nhau, không tạo được điều kiện hàn gắn tình cảm vợ chồng để tiếp tục cuộc hôn nhân hạnh phúc. Do đó, nếu tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân nói trên thì mục đích của hôn nhân cũng không thể đạt được. Việc ông Phan Quốc D yêu cầu ly hôn là có căn cứ và phù hợp với pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung : Ông Phan Quốc D và bà King Thyda S đều khai không có không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung : Ông Phan Quốc D và bà King Thyda S đều khai không có không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng nguyên đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38: khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 464; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:

Căn cứ khoản 1 Điều 51 ; Điều 53 ;khoản 1 Điều 56 ; Điều 57; Điều 122; Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

Căn cứ Nghị quyết 326/2016.UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự 2008 ; Tuyên xử :

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Phan Quốc D.

1/ Quan hệ hôn nhân: Ông Phan Quốc D được ly hôn với bà King Thyda S.

Giấy chứng nhận kết hôn số 1553, Quyển số 8 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/6/2013 không còn giá trị pháp lý kể tự ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2/ Về con chung : Không có

3/ Về tài sản chung và nợ chung: Không có

4/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Phan Quốc D phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền ông Phan Quốc D đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2018/0015146 ngày 29/3/2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Phan Quốc D đã nộp đủ án phí.

5/ Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn ông Phan Quốc D và bị đơn bà King Thyda S; ông Phan Quốc D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Bà King Thyda S được quyền kháng cáo trong hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 161/2020/HNGĐ-ST ngày 12/02/2020 về ly hôn

Số hiệu:161/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:12/02/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về