Bản án 161/2020/HNGĐ-ST ngày 07/09/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH - TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 161/2020/HNGĐ-ST NGÀY 07/09/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 07 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 267/2020/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2020 về việc "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/8/2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 90/2020/QĐST-HNGĐ ngày 20/8/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lương Thị T, sinh năm 1984.

Bị đơn: Anh Vương Thanh S, sinh năm 1982.

Cùng địa chỉ: Tổ S, ấp Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Chị T có đơn xin vắng mặt, anh S vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn chị Lương Thị T trình bày:

Chị và anh Vương Thanh S chung sống với nhau từ năm 2002, hôn nhân tự nguyện, đến năm 2012 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn số 52 ngày 07/5/2012. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu sau đó xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh S thường hay uống rượu và chửi bới vợ con, chị và anh S đã ly thân từ tháng 3 năm 2020 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn và hôn nhân không hạnh phúc nên chị xin được ly hôn với anh S.

Về con chung: Có 02 con chung là Vương Thị Thùy T1, sinh ngày 03/10/2002 và Vương Minh K, sinh ngày 02/5/2012. Ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án, anh S vắng mặt nên không có lời khai. Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định.

Trong vụ án này, các đương sự được xác định đúng tư cách pháp lý của đương sự, đảm bảo việc thu thập chứng cứ, việc cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lương Thị T.

Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung là Vương Thị Thùy T1, sinh ngày 03/10/2002 và Vương Minh K, sinh ngày 02/5/2012 cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không có yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Theo chị T trình bày về tài sản chung chị và anh S tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết, về nợ chung không có, anh S không có lời khai nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng cho bị đơn, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 52 ngày 07/5/2012, nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời khai của chị T thì sau khi chị và anh S kết hôn chung sống với nhau hạnh phúc thời gian đầu sau đó xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh S thường hay uống rượu và chửi bới vợ, con, chị và anh S đã ly thân từ tháng 3 năm 2020 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn và hôn nhân không hạnh phúc nên chị xin được ly hôn với anh S.

Tòa án đã nhiều lần triệu tập và thông báo về phiên hòa giải để tạo điều kiện hòa giải cho chị T và anh S hàn gắn đoàn tụ nhưng chị T vẫn cương quyết xin ly hôn còn anh S vắng mặt không lý do, cho thấy mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, anh S có thái độ bỏ mặc, không muốn hàn gắn tình cảm và mối quan hệ hôn nhân với chị T. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phương.

[3] Về con chung: Chị T và anh S có 02 con chung là Vương Thị Thùy T1, sinh ngày 03/10/2002 và Vương Minh K, sinh ngày 02/5/2012. Ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, theo chứng cứ do chị T cung cấp thể hiện chị có công việc ổn định với mức thu nhập hàng tháng khoảng 7.000.000đ, từ khi chị và anh S ly thân đến nay chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Theo nguyên vọng của cháu T1 và cháu K cũng muốn được ở cùng với mẹ, đo đó, để tránh xáo trộn về cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày của các cháu đồng thời phù hợp với nguyện vọng của các cháu, cần tiếp tục giao 02 con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, chị T không có yêu cầu nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Theo chị T trình bày về tài sản chung chị và anh S tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết, về nợ chung không có. Anh S không có lời khai và không cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, do đó Hội đồng xét xử không xem xét. Các đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết vấn đề tài sản chung và nợ chung bằng vụ án khác khi có tranh chấp.

[5] Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

 [6] Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:

Áp dụng các Điều 9, 11, 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lương Thị T:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị T được ly hôn với anh Vương Thanh S.

Về con chung: Giao 02 con chung là Vương Thị Thùy T1, sinh ngày 03/10/2002 và Vương Minh K, sinh ngày 02/5/2012 cho chị Lương Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục sau khi ly hôn. Tạm thời anh Vương Thanh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Vương Thanh S được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung khi cần thiết, các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Lương Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí sơ thẩm chị T đã nộp tại biên lai số 0003386 ngày 14/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. Chị T đã nộp đủ án phí.

Chị T, anh S có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 161/2020/HNGĐ-ST ngày 07/09/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:161/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Thành - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:07/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về