Bản án 161/2019/HS-ST ngày 13/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 161/2019/HS-ST NGÀY 13/11/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 13 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 177/2019/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Phạm Hữu Th, sinh năm 1993; nơi sinh: Lâm Đồng; nơi ĐKNKTT: 147 Trần Hưng Đạo, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Đình Quân, con bà: Võ Thị Nguyệt; Gia đình có 06 anh em, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1996; vợ: Phan Thị Ngọc Thúy; con: có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ từ ngày 07/8/2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

- Ông Lê Nguyên T, sinh năm 1997; trú tại: 55/6/1 Hoàng Văn Thụ, tổ 8, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Bà Đặng Thị Mười E, sinh năm 1985; trú tại: Ấp Phú Nghĩa, xã T P, huyện T B, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Phan Hoài B, sinh năm 1983; trú tại: Thôn K’ Nai, xã P H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt 

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Hữu Th là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

* Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ ngày 28/7/2019 bị cáo Phạm Hữu Th đi bộ một mình tại đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, thị trấn L N tìm xe máy để trộm cắp. Bị cáo đi ngang qua số nhà 15A đường Nguyễn bỉnh Khiêm thấy xe máy hiệu Yamaha Sirius đỏ đen biển số 64E1-170.37 đứng tên chủ sở hữu Đặng Thị Mười E dựng ngoài sân, không khóa cổ. Bị cáo đã lén lút nối dây điện rồi nổ máy xe chạy về thôn K’ Nai, xã P H, khi đi trên đường bị cáo tháo biển số xe vứt bên đường sau đó bán lại chiếc xe cho Phan Hoài B với giá 3.000.000đ. Bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết. Theo kết luận định giá số 123/KL-HĐĐG ngày 15/8/2019 xác định giá trị chiếc xe Yamaha Sirius đỏ đen biển số 64E1-170.37 thời điểm chiếm đoạt là 9.750.000đ.

* Vụ thứ hai: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 07/8/2019 bị cáo đi bộ một mình dọc các đường phía sau huyện Đoàn huyện Đ để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi qua dãy trọ số 43 Nguyễn Trung Trực bị cáo phát hiện xe máy hiệu Sirius biển số 49E1-342.32 đứng trên chủ sở hữu Lê Nguyên T để ngoài sân, có khóa cổ. Bị cáo đã lén lút lấy chìa khóa trong người phá khóa cổ xe, do không nổ máy được nên bị cáo dắt xe đi qua đường Trần Hưng Đạo nhờ một tiệm sửa xe mở khóa điện của xe sau đó bị cáo chạy về đường Lý Thường Kiệt tháo biển số xe vứt ngoài lề đường. Lúc này đối tượng tên Trí Mèo và Công không rõ lai lịch gọi điện cho bị cáo hỏi về chiếc xe bị cáo vừa lấy. Biết hành vi của mình đã bị phát hiện nên bị cáo làm theo lời Công và Trí mèo chạy xe về số 55/6/1 đường Hoàng Văn Thụ để trả xe thì bị Công an thị trấn L N bắt giữ. Theo kết luận định giá số 116/KL-HĐĐG ngày 09/8/2019 xác định giá trị chiếc xe Sirius biển số 49E1-342.32 thời điểm chiếm đoạt là 7.350.000đ.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo phạm tội hai lần trở lên nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra bị can đã thành khẩn khai báo nên cần áp dụng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tại bản cáo trạng số 148/CT - VKS ngày 31 tháng 10 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đ để xét xử bị cáo Phạm Hữu Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố các bị cáo Phạm Hữu Th về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Phạm Hữu Th từ 06 đến 09 tháng tù giam.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Phạm Hữu Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc trông coi quản lý tài sản của người khác để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể: Lần thứ nhất: Khoảng 12 giờ ngày 28/7/2019 bị cáo trộm chiếc xe máy hiệu Yamaha Sirius đỏ đen biển số 64E1-170.37 của chị Đặng Thị Mười E. Trên đường chạy xe về thôn K’ Nai, xã P H bị cáo tháo biển số xe vứt bên đường sau đó bán lại chiếc xe cho Phan Hoài B với giá 3.000.000đ. Theo kết luận định giá số 123/KL-HĐĐG ngày 15/8/2019 xác định giá trị chiếc xe Yamaha Sirius đỏ đen biển số 64E1-170.37 thời điểm chiếm đoạt là 9.750.000đ. Vụ thứ hai: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 07/8/2019 bị cáo đi bộ một mình dọc các đường phía sau Huyện đoàn huyện Đ để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi qua dãy trọ số 43 Nguyễn Trung Trực bị cáo phát hiện xe máy hiệu Sirius biển số 49E1-342.32 của anh Lê Nguyên T không có người trông coi bị cáo sử dụng chìa khóa mang theo để mở khóa xe máy, do không nổ máy được nên bị cáo dắt xe tới tiệm sửa xe để mở khóa, sau đó đối tượng tên Trí Mèo và Công không rõ lai lịch gọi điện cho bị cáo hỏi về chiếc xe bị cáo vừa lấy. Biết hành vi của mình đã bị phát hiện nên bị cáo làm theo lời Công và Trí mèo chạy xe về số 55/6/1 đường Hoàng Văn Thụ để trả xe cho chủ sở hữu thì bị Công an thị trấn L N bắt giữ. Theo kết luận định giá xe xác định giá trị chiếc xe Sirius biển số 49E1-342.32 thời điểm chiếm đoạt là 7.350.000đ. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phạm Hữu Th đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, cấm mọi hành vi xâm phạm tài sản bất hợp pháp nhưng do muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội của mình, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an xã hội, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần xử phạt bị cáo thật nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới thoả đáng.

[4] Về nhân thân: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo thực hiện hiện hành vi trộm cắp 02 lần với tổng giá trị tài sản là 17.100.000đ nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự phạm tội nhiều lần để xem xét tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra đã thu giữ chiếc xe máy hiệu Yamaha Sirius đỏ đen biển số 64E1-170.37 và chiếc xe máy hiệu Sirius biển số 49E1-342.32, sau khi định giá Cơ quan điều tra đã trả lại cho các bị hại bà Đặng Thị Mười E và ông Lê Nguyên T và không ai có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với số tiền 3.000.000đ ông Phan Hoài B mua xe của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố ông B không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 3.000.000đ này, tại phiên tòa hôm nay ông B vắng mặt và không có ý kiến yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Từ những phân tích nhận định trên nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và mang tính răn đe, giáo dục phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Hữu Th 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 07/8/2019.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Phạm Hữu Th phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 161/2019/HS-ST ngày 13/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:161/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đơn Dương - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:13/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về