Bản án 161/2019/HNGĐ-ST ngày 30/07/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 161/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/07/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 30 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 584/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2019 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim Q, sinh năm 1981

Bị đơn: Ông Đỗ Ngọc V, sinh năm: 1980

Cùng địa chỉ: số B, Khu vực H, thị trấn Đ1, huyện Đ2, tỉnh Long An.

(Bà Q có mặt; ông V vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại Đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Lê Thị Kim Q trình bày:

Do quen biết và được gia đình đồng ý nên bà Lê Thị Kim Q với ông Đỗ Ngọc V xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới năm 2006; có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Đ3 vào năm 2007. Đời sống chung vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, nhưng đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cãi vã do ông V có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác và đã có con chung với nhau nên bà Q yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông V.

 Về con chung: Bà Q với ông V có 02 con chung tên Đỗ Ngọc Huỳnh H, sinh ngày 31/8/2008 và Đỗ Ngọc Huỳnh N, sinh ngày 03/6/2012; hiện nay bà Q đang nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà Q yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con; yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung: Bà Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Đương sự xác định không có nợ chung với ông V.

Bị đơn ông Đỗ Ngọc V trình bày:

Ông V thống nhất lời trình bày của bà Q về việc xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn và thừa nhận đời sống chung vợ chồng có mâu thuẫn do vợ chồng có công việc khác nhau, nên vợ chồng sống xa cách; không quan tâm nhau nhưng bà Q yêu cầu ly hôn thì ông V không đồng ý vì thương vợ.

Về con chung: Bà Q với ông V có 02 con chung tên Đỗ Ngọc Huỳnh H, sinh ngày 31/8/2008 và Đỗ Ngọc Huỳnh Nh sinh ngày 03/6/2012; hiện nay bà Q đang nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn ông V đồng ý để bà Q được quyền tiếp tục nuôi con; ông V tự nguyện cấp dưỡng nuôi mỗi con là 5.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Toà án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng bị đơn có đơn đề nghị vắng mặt nên vụ án không hòa giải được và Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên toà, nguyên đơn bà Q vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn ông V vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tố tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Lê Thị Kim Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đỗ Ngọc V. Căn cứ theo Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tố tụng là “tranh chấp ly hôn”, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo thủ tục sơ thẩm.

[2] Bị đơn ông Đỗ Ngọc V vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hợp lệ. Căn cứ theo Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Theo Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì nguyên đơn bà Q yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về tình cảm vợ chồng; nuôi con chung; cấp dưỡng; không tranh chấp về tài sản chung và thừa nhận không có nợ chung với bị đơn. Bị đơn ông V không có yêu cầu phản tố trong vụ án.

Căn cứ khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chỉ xem xét đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và giải quyết hậu quả theo quy định pháp luật.

[4] Theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 40 ngày 18/6/2017 của UBND xã B, huyện Đ3 và sự thừa nhận của đương sự thì bà Q và ông V xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn tại xã B, huyện Đ3 vào ngày 18/6/2007 là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ.

[5] Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Q với ông V là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên gây gổ, cải nhau nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay; không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Q với ông V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Q đối với ông V.

[6] Theo Giấy khai sinh số: 127/2018 ngày 03/11/2008 và số: 123/2012 ngày 31/7/2012 của UBND xã B, huyện Đ3 và sự thừa nhận của đương sự thì bà Q và ông V có 02 con chung tên Đỗ Ngọc Huỳnh H, sinh ngày 31/8/2008 và Đỗ Ngọc Huỳnh N, sinh ngày 03/6/2012; hiện nay bà Q đang nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, ông V đồng ý giao cả 02 con cho bà Q tiếp tục nuôi dưỡng. Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần giao cháu H và cháu N cho bà Q tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

[7] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Q yêu ông V cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật và ông V cũng tự nguyện cấp dưỡng nuôi mỗi con là 5.000.000 đồng/tháng nên sau khi ly hôn ông V phải cấp dưỡng nuôi 02 con là 10.000.000 đồng/tháng; thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 08 năm 2019.

[8] Về tài sản chung: Đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[9] Về nợ chung: Đương sự trình bày không có nợ chung nên không đề cập.

[10] Về án phí: Bà Lê Thị Kim Q phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Căn cứ vào Điều 53, 56, 81, 82, 83, 84 và khoản 1 Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Lê Thị Kim Q đối với ông Đỗ Ngọc V.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim Q được ly hôn với ông Đỗ Ngọc V.

Về nuôi con chung: Bà Lê Thị Kim Q và ông Đỗ Ngọc V có 02 con chung tên Đỗ Ngọc Huỳnh H, sinh ngày 31/8/2008 và Đỗ Ngọc Huỳnh N, sinh ngày 03/6/2012; hiện nay bà Q đang nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, bà Q được quyền tiếp tục nuôi dưỡng hai con.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông Đỗ Ngọc V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng là 10.000.000 đồng; thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 8 năm 2019.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Đương sự trình bày không có nợ chung với nhau.

Về án phí: Bà Lê Thị Kim Q phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà Q đã nộp theo Biên lai số 0004823 ngày 06 tháng 6 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa sang án phí.

Án xử sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 161/2019/HNGĐ-ST ngày 30/07/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:161/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về