Bản án 160/2020/HNGĐ-ST ngày 27/07/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 160/2020/HNGĐ-ST NGÀY 27/07/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

 Ngày 27 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2020 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc V, sinh năm 1988.

Địa chỉ: ấp A, xã B, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh Q, sinh năm 1980.

Địa chỉ: ấp A, xã B, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc V trình bày: bà và ông Q tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang vào năm 2006. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông Q có hành vi bạo hành, thường xuyên đánh đập bà, bà đã tạo nhiều cơ hội để ông Q sửa chữa nhưng ông Q không thay đổi. Ông bà đã sống ly thân khoảng 03 tháng nay. Do đó, bà khởi kiện xin được ly hôn ông Huỳnh Thanh Q.

Về con chung: ông bà có 02 con chung là Huỳnh Thị Thúy V (giới tính: Nữ) sinh ngày 09/9/2006 và Huỳnh Phước L (giới tính: Nam) sinh ngày 04/4/2017. Bà yêu cầu được nuôi 02 con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu cấp dưỡng cấp nuôi con chung.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có, không yêu cầu tòa án xem xét giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh Thanh Q trình bày: ông không thống nhất ly hôn với bà V vì ông còn thương vợ. Ông thừa nhận ông có ghen tuông nên ông có dùng dao để uy hiếp vợ. Ông xin bà V cho ông một cơ hội để thay đổi.

Về con chung: ông bà có 02 con chung là Huỳnh Thị Thúy V (giới tính: Nữ) sinh ngày 09/9/2006 và Huỳnh Phước L (giới tính: Nam) sinh ngày 04/4/2017. Nếu ly hôn, ông đồng ý cho bà V tiếp tục nuôi con chung.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có, không yêu cầu tòa án xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bà V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; ông Q vắng mặt nên chưa có ý kiến trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật: bà Huỳnh Thị Ngọc V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Huỳnh Thanh Q và được quyền nuôi con chung nên Tòa án xác định đây là tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình, Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: bị đơn ông Huỳnh Thanh Q cư trú tại ấp A, xã B, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: bà Huỳnh Thị Ngọc V và ông Huỳnh Thanh Q đã tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vị Tân, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang vào năm 2006. Do đó, hôn nhân giữa bà V và ông Q là hợp pháp. Bà V yêu cầu ly hôn với ông Q là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông Q có hành vi bạo hành, thường xuyên đánh đập bà, bà đã tạo nhiều cơ hội để ông Q sửa chữa nhưng ông Q không thay đổi. Vì vậy, bà V cương quyết xin ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, ông Q thừa nhận ông có dùng dao để uy hiếp vợ nhưng ông còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn.

 Tuy nhiên, sau khi hòa giải, ông Q bỏ mặc và cũng không đến Tòa án để tham gia phiên tòa. Điều đó chứng tỏ tình cảm của ông Q đối với bà V cũng không còn. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa bà V và ông Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà V, cho bà V ly hôn với ông Q là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: quá trình chung sống, bà V và ông Q có 02 con chung là 02 con chung là Huỳnh Thị Thúy V (giới tính: Nữ) sinh ngày 09/9/2006 và Huỳnh Phước L (giới tính: Nam) sinh ngày 04/4/2017. Bà V có yêu cầu được nuôi con chung. Trong quá trình giải quyết, cháu Huỳnh Thị Thúy V có nguyện vọng được sống chung với mẹ, được mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Tại phiên hòa giải ngày 17/6/2020, ông Q cũng thống nhất giao 02 con chung cho bà V được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy giao cháu Huỳnh Thị Thúy V (giới tính: Nữ) sinh ngày 09/9/2006 và Huỳnh Phước L (giới tính: Nam) sinh ngày 04/4/2017 cho bà V được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo tốt nhất quyền lợi cho hai cháu và phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

[6] Về cấp dưỡng: do bà V chưa có yêu cầu trong vụ án này nên Hội đồng xét xử chưa xem xét giải quyết.

[7] Về tài sản chung: bà V và ông Q trình bày ông bà tự thỏa thuận và cũng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong cùng vụ án.

[8] Về nợ chung: bà V và ông Q trình bày không có và cũng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong cùng vụ án.

[9] Về án phí: căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bà V phải chịu án phí là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc V.

1. Về quan hệ hôn nhân: bà Huỳnh Thị Ngọc V được ly hôn với ông Huỳnh Thanh Q.

2. Về con chung: giao cháu Huỳnh Thị Thúy V (giới tính: Nữ) sinh ngày 09/9/2006 và Huỳnh Phước L (giới tính: Nam) sinh ngày 04/4/2017 cho bà Huỳnh Thị Ngọc V được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Huỳnh Thanh Q chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do Bà Huỳnh Thị Ngọc V chưa yêu cầu. Ông Huỳnh Thanh Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: do chưa có yêu cầu nên chưa xem xét giải quyết trong cùng vụ án.

4. Về án phí: buộc nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Huỳnh Thị Ngọc V đã nộp theo biên lai số 0003126 ngày 02 tháng 6 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh thành án phí, bà Huỳnh Thị Ngọc V không phải nộp thêm.

5. Về quyền kháng cáo: đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

45
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 160/2020/HNGĐ-ST ngày 27/07/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:160/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vị Thanh - Hậu Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/07/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về