Bản án 160/2017/HSST ngày 14/08/2017 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 160/2017/HSST NGÀY 14/08/2017 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 14/8/2017 Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 162/2017/HSST, ngày 28/07/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Y M Knul; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1990; Tại: Đắk Lắk; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Buôn K, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Ê đê; Tôn giáo: Tin lành; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Tiền án, tiền sư: Không; Con ông: Y P Bdap - sinh năm: 1966; Con bà: H’B Knul - sinh năm: 1968. Hiện cùng trú tại: Buôn K, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Gia đình bị cáo có 06 anh, em ruột, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo có vợ tên là H’N Êban - sinh năm: 1993; Bị cáo có 01 con - sinh năm: 2013. Hiện cùng trú tại: Buôn K, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

Nhân thân: Từ nhỏ sinh ra và lớn lên tại tỉnh Đắk Lắk, được gia đình cho ăn học đến lớp 12/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình tại Buôn K, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Năm 2013, lấy vợ và chuyển đến sinh sống tại Buôn K, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 18/4/2017 có hành vi Cướp giật tài sản. Ngày 25/4/2017, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, khơi tô và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột, từ ngày 19/4/2017 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

1. Người bị hại: Bà Trần Thị S - Sinh năm 1966; Trú tại: Thôn M, xã H, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà H’N Êban - Sinh năm 1993;  Trú tại: Buôn K, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

3. Người làm chứng: Bà Nguyễn Trần Ánh S - Sinh năm 1995; Trú tại: Thôn M, xã H, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

Ông Hoàng Quốc T và ông Nguyễn Nguyên V; Cùng trú tại: Thôn B, xã H, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 21h00’ ngày 18/4/2017, sau khi nhậu cùng nhóm bạn tại buôn K, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, Y M Knul điều khiển xe Mô tô nhãn hiệu Cavalry, kiểu dáng xe Wave, màu đen, biển số 47B1 – 504.27 đến khu vực Km13, Quốc lộ 14, thuộc thôn B, xã H, thành phố B để mua bánh xèo mang về nhà. Sau khi mua bánh xèo xong, Y M Knul điều khiển xe Mô tô đi qua quán nước mía gần đó, thì thấy bà Trần Thị S đang đứng cùng con gái là chị Nguyễn Trần Ánh S bên cạnh xe mô tô, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, màu trắng để xem video, nên Y M Knul nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại di động trên. Y M Knul điều khiển xe Mô tô của mình đi lên phía trước một đoạn cách vị trí của bà S và chị S khoảng 15 mét thì dừng lại dựng xe bên đường Quốc lộ 14 rồi đi bộ đến gần chỗ bà S và chị S. Lúc này, chị S đã ngồi lên vị trí điều khiển xe, còn bà S ở phía sau chuẩn bị ngồi lên xe, trên tay bà S vẫn cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, màu trắng xem video. Thấy vậy, Y M Knul đi đến từ phía sau bà S rồi bất ngờ dùng tay giật lấy chiếc điện thoại Samsung Galaxy A7, màu trắng từ trên tay bà S. Thì bà S vẫn giữ và giằng lại chiếc điện thoại, Y M Knul tiếp tục giật mạnh lấy được chiếc điện thoại trên rồi bỏ chạy về phía xe Mô tô biển số 47B1 – 504.27 của mình đang dựng sẵn để tẩu thoát, bà S tri hô rồi cùng chị S và quần chúng nhân dân đuổi theo bắt giữ Y M Knul cùng tang vật giao cho Công an xã H, thành phố B xử lý.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột thu giữ 01 xe Mô tô hiệu Cavalry, kiểu dáng Wave, số máy VTT32JL1P52FMH-002115; số khung RRKWCH1UM6XT02115, biển số 47B1 – 504.27 là phương tiện bị cáo Y M Knul sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, màu trắng kèm theo vỏ ốp nhựa trong suốt có đính đá là phương tiện và tang vật của vụ án, để xử lý.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 107/KLĐG, ngày 20/4/2017, của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, màu trắng, kèm theo vỏ ốp nhựa trong suốt có đính đá, trị giá 3.600.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 120/KLĐG, ngày 11/5/2017, của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, kết luận: 01 xe Mô tô nhãn hiệu Cavalry, kiểu dáng Wave, màu đen, số máy VTT32JL1P52FMH-002115, số khung RRKWCH1UM6XT02115, biển số 47B1-504.27, trị giá 1.700.000 đồng.

Với các nội dung trên, tại bản cáo trạng số 179/KSĐT-HS ngày 27/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột đã truy tố bị cáo Y M Knul về tội Cướp giật tài sản theo  khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Y M Knul đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã mô tả và thừa nhận vào khoảng 21h00’ ngày 18/4/2017, trên đường đi mua bánh xèo thì thấy bà Trần Thị S đang đứng cùng con gái là chị Nguyễn Trần Ánh S đang sử dụng điện thoại di động bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại di động trên. Bị cáo điều khiển xe mô tô của mình đến gần vị trí của bà S và chị S khoảng 15 mét thì dừng lại rồi đi bộ đến gần chỗ bà S và chị S. Bị cáo đi đến từ phía sau bà S rồi bất ngờ dùng tay giật lấy chiếc điện thoại từ trên tay bà S rồi bỏ chạy về phía xe mô tô của mình đang dựng sẵn để tẩu thoát.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu quan điểm phân tích tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng khoản 1 Điều 136, điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Y M Knul mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 41, 42 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã trả cho chị Nguyễn Trần Ánh S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, màu trắng, kèm theo ốp nhựa trong suốt có đính đá, là chủ sở hữu.

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền là 850.000 đồng là ½ giá trị chiếc xe Mô tô biển số 47B1 – 504.27, mà Y M Knul sử dụng làm phương tiện phạm tội. Trả lại ½ giá trị chiếc xe Mô tô biển số 47B1 – 504.27 cho chị H’N Êban; Tiếp tục tạm giữ xe Mô tô nhãn hiệu Cavalry, kiểu dáng Wave, màu đen, số máy VTT32JL1P52FMH-002115, số khung RRKWCH1UM6XT02115, biển số 47B1 – 504.27, để đảm bảo công tác thi hành án.

Bị cáo, người liên quan không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và của những người tham gia tố tụng khác

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với các tài liệụ, chứng cứ thu thập được có lưu trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng. Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ căn cứ pháp lý để kết luận vào khoảng 21h00’ ngày 18/4/2017 lợi dụng sự thiếu cảnh giác của bà Trần Thị S trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã cướp giật chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7 trị giá 3.600.000 đồng rồi nhanh chóng ra xe mô tô của mình để tẩu thoát. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự.

Điều 136 Bộ luật hình sự quy định:

“1- Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy bị cáo là nguời phát triển bình thường cả về thể lực cũng như trí lực. Bị cáo đã nhận thức được mọi hành vi xâm hại đến tài sản của người khác đều bị pháp luật trừng trị. Song vì động cơ vụ lợi cá nhân, lợi dụng chủ sở hữu không cảnh giác bị cáo đã nhanh chóng chiếm đoạt tài sản rồi lên xe mô tô tẩu thoát. Vì vậy, cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã có thái độ khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lầu đầu, hậu quả đã được khắc phục (tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại). Được người bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 41, 42 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã trả cho chị Nguyễn Trần Ánh S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, màu trắng, kèm theo ốp nhựa trong suốt có đính đá, là chủ sở hữu.

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền là 850.000 đồng là ½ giá trị chiếc xe Mô tô biển số 47B1 – 504.27, mà Y M Knul sử dụng làm phương tiện phạm tội. Trả lại ½ giá trị chiếc xe Mô tô biển số 47B1 – 504.27 cho chị H’N Êban; Tiếp tục tạm giữ xe Mô tô nhãn hiệu Cavalry, kiểu dáng Wave, màu đen, số máy VTT32JL1P52FMH-002115, số khung RRKWCH1UM6XT02115, biển số 47B1 – 504.27, để đảm bảo công tác thi hành án.

Xét thấy Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố Y M Knul về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề xuất đối với bị cáo là có phần hơi nghiêm khắc mà chỉ nên xử phạt bị cáo dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Y M Knul phạm tội“Cướp giật tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 136, điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Y M Knul 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam 19/4/2017.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 41, Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã trả cho chị Nguyễn Trần Ánh S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, màu trắng, kèm theo ốp nhựa trong suốt có đính đá, là chủ sở hữu.

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền là 850.000 đồng là ½ giá trị chiếc xe Mô tô biển số 47B1 – 504.27, mà Y M Knul sử dụng làm phương tiện phạm tội. Trả lại ½ giá trị chiếc xe Mô tô biển số 47B1 – 504.27 cho chị H’N Êban; Tiếp tục tạm giữ xe Mô tô nhãn hiệu Cavalry, kiểu dáng Wave, màu đen, số máy VTT32JL1P52FMH-002115, số khung RRKWCH1UM6XT02115, biển số 47B1 – 504.27, để đảm bảo công tác thi hành án.

Về án phí: Bị cáo Y M Knul phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.


114
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 160/2017/HSST ngày 14/08/2017 về tội cướp giật tài sản

      Số hiệu:160/2017/HSST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:14/08/2017
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về