Bản án 159/2020/HSST ngày 18/05/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 159/2020/HSST NGÀY 18/05/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 18 tháng 5 năm 2020, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 169/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2020/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo:

Vũ Sơn T, tên gọi khác: không. Sinh ngày 27/8/1990. HKTT: Tổ 15, phường HVT, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Hải S và con bà Phạm Thị L; Vợ là Đào Thị Quỳnh C, có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên từ ngày 29/02/2020 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

1. Anh Nguyễn Tiến Dũng, sinh năm 1986. Vắng mặt Trú tại: Tổ 18, phường Q, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

2. Ông Ngô Văn Thắng, sinh năm 1952. Vắng mặt Trú tại; tổ 21, phường PĐP, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 29/02/2020, tổ công tác của Công an phường PĐP, thành phố TN đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 21 của phường đã phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu đứng lại để kiểm tra, nam thanh niên khai tên là: Vũ Sơn T (sinh năm 1990, trú tại tổ 15, phường HVT, thành phố TN). Qua kiểm tra T đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, T khai là ma túy đá. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên đã tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng đã thu giữ được của T có khối lượng là 0,296 gam. Tại bản kết luận số 399/KL – KTHS ngày 08/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất tinh thể màu trắng đã thu giữ được của Tùng ngày 29/02/2020 gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là 0,296 gam.

Tại Cơ quan điều tra Vũ Sơn T khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 29/02/2020, Tùng đi xe ôm của một người không quen biết đến khu vực cây xăng cổng Thành Đội, thành phố Thái Nguyên thuộc phường PĐP, thành phố TN với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến nơi T gặp một người phụ nữ không quen biết, qua giao dịch Tùng mua của người phụ nữ đó 01 ma túy dạng đá được đựng trong túi nilon với giá 200.000 đồng. T cất giấu vào túi quần sau bên phải đang mặc rồi đi tìm chỗ vắng người qua lại để sử dụng. Khi đi đến khu tổ 21, phường PĐP, thành phố TN thì bị tổ công tác của Công an phường PĐP, thành phố TN phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T1 và 01 chứng minh nhân dân số 091573181 mang tên Vũ Sơn T hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Tại bản cáo trạng số 175/CT-VKSNDTPTN, ngày 01/4/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Vũ Sơn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa: Bị cáo Vũ Sơn T khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã mô tả. Bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, không oan, sai.

Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố Thái Nguyên trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Vũ Sơn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51BLHS, xử phạt bị cáo Vũ Sơn T từ 15 đến 18 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu T1. Hoàn trả cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân số 091573181 mang tên Vũ Sơn T. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.

[2]. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 29/02/2019, tại khu vực tổ 21, phường PĐP, thành phố TN, Vũ Sơn T đang có hành vi tàng trữ 0,296 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường PĐP, thành phố TN phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Bị cáo đủ nhận thức để nhận biết được tác hại của ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do đó, cần phải bị xử lý nghiêm khắc để giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

[4]. Vật chứng vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu T1 cần tịch thu tiêu hủy. Chứng minh thư nhân dân thu giữ của bị cáo là giấy tờ tùy thân nên trả lại cho bị cáo.

[5]. Về các vấn đề khác: Bị cáo phải nộp án hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số Methamphetamine bị thu giữ Tùng khai mua của một người phụ nữ không quen biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đủ cơ sở để điều tra làm rõ để xử lý.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Sơn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51BLHS, xử phạt Vũ Sơn T 18 (Mười tám) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 29/02/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự  , Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong có chứa ma túy, mặt sau phong bì có 02 dấu tròn đỏ của phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên và chữ ký ghi tên Trần Đức Th, Mai Tố U.

Hoàn trả cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân số 0915XXXX mang tên Vũ Sơn T.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 249 ngày 20/4/2020 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


34
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 159/2020/HSST ngày 18/05/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:159/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về