Bản án 159/2020/HNGĐ-ST ngày 11/09/2020 về ly hôn

A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 159/2020/HNGĐ-ST NGÀY 11/09/2020 VỀ LY HÔN 

Ngày 11 tháng 9 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 321/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 210/2020/QĐXX-ST ngày 04 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Hứa Vủ L, sinh năm 1994 (có yêu cầu xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp XM, xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Chị Thiều Bích T, sinh năm 1999 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp TB, xã TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Tại đơn khởi kiện ngày 09/6/2020 anh Hứa Vủ L trình bày:

Anh L và chị T được cha mẹ tổ chức lễ cưới, tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 23/5/2017. Vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm với nhau trong cuốc sống, thường cự cãi nhau và được gia đình hai bên hàn gắn nhiều lần nhưng không được nên chị T bỏ về nhà tại ấp TB, xã TB ở từ ngày 25/4/2020 đến nay. Do cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên anh L yêu cầu ly hôn với chị T.

Thời gian chung sống anh chị có 01 con chung tên Hứa Thiên K, sinh ngày 04/5/2018 hiện anh L nuôi dạy. Khi ly hôn, anh L yêu cầu tiếp tục nuôi dạy con chung nhưng không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có nên anh L không yêu cầu giải quyết.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định.

Về nội dung: Anh L và chị T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn là tuân thủ đúng quy định pháp luật. Do anh chị chung sống không còn hạnh phúc và đã ly thân từ ngày 25/4/2020 mà không thể đoàn tụ gia đình nên cần xử lý cho anh chị được ly hôn; con chung hiện anh L nuôi dạy nên cần tiếp tục giao anh L nuôi dạy, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung không có nên không đề nghị xem xét. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm do anh L chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Anh Hứa Vủ L khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Thiều Bích T. Do anh chị chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; chị T có địa chỉ tại ấp TB, xã TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của anh L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị T nhưng chị T vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị T theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng anh L có yêu cầu xin vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân: Anh Hứa Vủ L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 23/5/2017. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Tại đơn khởi kiện, anh L yêu cầu ly hôn với chị T. Xét thấy, yêu cầu của anh L là có cơ sở. Bởi vì, anh L xác định thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được nên anh chị đã ly thân từ tháng 4/2020 đến nay là phù hợp với lời khai của người làm chứng và xác nhận của Ủy ban nhân dân xã BBĐ. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tổ chức hòa giải để anh chị có điều kiện gặp nhau thỏa thuận thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do chị T vắng mặt tại các lần hòa giải, xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho anh Hứa Vủ L và chị Thiều Bích T được ly hôn.

[4] Về con chung: Thời gian chung sống, anh chị có 01 con chung tên Hứa Thiên K, sinh ngày 04/5/2018 (giới tính nữ). Xét thấy, việc anh L yêu cầu tiếp tục nuôi dạy cháu Thiên Kim là có căn cứ. Bởi vì, cháu Thiên K hiện anh L nuôi dạy, việc hoán đổi nuôi con sẽ làm ảnh hưởng đến tình cảm của cháu K. Hơn nữa, quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án có thông báo cho chị T biết yêu cầu của anh L nhưng chị T không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu của anh L. Vì vậy cần tiếp tục giao cháu Thiên K cho anh L nuôi dạy là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Anh L không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Tại đơn khởi kiện anh L xác định thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung và không có yêu cầu giải quyết; tại xác nhận ngày 20/7/2020 của Ủy ban nhân dân xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xác nhận thời gian chung sống anh chị không có bị ai khiếu kiện nợ tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xét là phù hợp.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Hứa Vủ L phải chịu án phí – Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Xét xử vắng mặt đối với anh Hứa Vủ L và chị Thiều Bích T.

2.Về hôn nhân: Anh Hứa Vủ L và chị Thiều Bích T được ly hôn.

3.Về con chung: Giao con chung tên Hứa Thiên K, sinh ngày 04/5/2018 (giới tính nữ) cho anh Hứa Vủ L tiếp tục nuôi dạy. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị T không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng chị có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Hứa Vủ L phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 10 tháng 6 năm 2020 anh L có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0011273 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

5.Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bản án này là sơ thẩm, báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.


3
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 159/2020/HNGĐ-ST ngày 11/09/2020 về ly hôn

Số hiệu:159/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thới Bình - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về