Bản án 158/2018/HS-ST ngày 18/04/2018 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 158/2018/ HS-ST NGÀY 18/04/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 18 tháng 04 năm 2018 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 128/2018/TLHS-HS, ngày 01 tháng 03 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 04 năm 2018, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn TH, sinh ngày 21/5/1994

ĐKHKTT: xóm T, xã C, huyện Y, tỉnh Nam Định. Chỗ ở: tổ B, phường T, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: lớp 12/12; Nghề nghiệp: không. Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1970, con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1974. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ nhất; có vợ là Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1994; Chưa có con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, bị tạm giữ từ ngày 25/01/2018 đến ngày 28/01/2018. (có mặt tại phiên tòa).

2. Hoàng Minh T, sinh ngày 26/08/1992. ĐKHKTT: Thôn G, xã T, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên. Chỗ ở: tổ K, phường T, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: lớp 12/12; Nghề nghiệp: không. Con ông: Hoàng Văn U, sinh năm 1970, con bà: Hà Thị Ánh N, sinh năm 1973. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; có vợ là Nguyễn Thùy D, sinh năm 1993; chưa có con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, bị tạm giữ từ ngày 25/01/2018 đến ngày 28/01/2018. (có mặt tại phiên tòa).

3. Đào Minh Đ, sinh ngày 14/11/1989. ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ Đ, phường P, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: lớp 12/12; Nghề nghiệp: không. Con ông: Đào Văn Đ, sinh năm 1965, con bà: Lương Thị T, sinh năm 1969. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; có vợ là Mạc Thị T, sinh năm 1995; chưa có con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, không bị giam giữ.  (có mặt tại phiên tòa)

Người làm chứng: Vũ Thị Thu H, sinh năm 1969 (vắng mặt tại phiên tòa); Trú tại: Tổ B, phường P, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25/01/2018 Nguyễn Văn TH, Hoàng Minh T và Đào Minh Đ cùng rủ nhau đến quán cà phê M thuộc tổ B, phường P, thành phố TH uống cà phê và đánh bạc. TH và T đi đến nơi hẹn trước. Khi đi TH mang 1.250.000đồng dùng vào việc đánh bạc mua 01 bộ bài tú lơ khơ có 52 quân; T có khoảng 2.400.000đồng sử dụng vào việc đánh bạc. Đến nơi TH, T ngồi uống nước được khoảng 05 phút, thì TH lấy bộ bài tú lơ khơ rồi bỏ các quân bài từ 10, J, Q, K đi còn giữ lại 36 quân từ A đến 9 để dùng vào việc đánh bạc, sát phạt nhau bằng tiền.

Hình thức đánh ba cây, là người chơi được chia 03 quân bài rồi cộng điểm của ba quân bài lại so điểm với người cầm chương, ai cao điểm hơn thì người đó thắng. Quá trình tham gia chơi ai được 10 điểm thì chuyển cho người đó người cầm chương. Trường hợp người chơi và người cầm chương bằng điểm nhau thì sẽ đọ đến chất theo thứ tự thấp dần là Rô, Cơ, Tép, Bích, quân bài “A rô ” là to nhất sau đó là “9 rô” và thấp dần. Cách tính điểm là sẽ tính điểm theo thang 10 nếu cộng 03 quân bài lại mà số điểm trên 10 thì sẽ chỉ tính bằng số điểm ở hàng đơn vị (20 điểm thì tính là 10 điểm, 19 điểm thì tính là 9 điểm).

Trước khi đánh bạc T và TH thống nhất ăn thua 50.000đồng/1 ván và ván bàinào có người chơi được 9 hay 10  điểm thì cầm chương phải trả cho người có bài 9 hay 10 điểm số tiền là 100.000đồng và ngược lại. Trong quá trình đánh bạc người chơi có bài “sáp” và “dây”, tức người chơi có được ba quân bài liên tiếp nhau cùng chất ví dụ 5,6,7 rô gọi là “dây” hoặc có ba quân bài cùng quân ví dụ 333 gọi là “sáp”, thì người cầm chương phải trả cho người có bài “sáp” hoặc “dây” số tiền là 150.000đồng, còn người cầm chương có bài “sáp” hoặc “dây” thì từng người chơi phải trả cho người cầm số tiền ngược lại.

Để tránh sự phát hiện, Nguyễn Văn TH có cất giấu số tiền 1.250.000 đồng để ở trong ví đặt phía trước mặt và dùng cả số tiền trên vào việc đánh bạc, còn Hoàng Minh T bỏ trước ra 500.000 đồng để ở túi áo phía trước bên trái đánh bạc, số tiền 1.900.000đồng còn lại T vẫn để trong ví đặt phía trước mặt mình, khi nào thua số tiền đã bỏ ra thì T sẽ lấy số tiền trong ví đánh bạc. Khi TH và T đang chọn bỏ bớt các quân bài ra thì Đào Minh Đ đến tham gia đánh bạc. Đ có mang theo số tiền 1.600.000 đồng dùng vào việc đánh bạc và lấy ra trước 300.000 đồng cất ở túi quần bên phải để đánh bạc, số tiền còn lại cất trong ví của mình để dưới gầm bàn phía trước mặt, để khi nào thua số tiền đã bỏ ra thì Đ sẽ dùng số tiền cất giấu trong ví đánh bạc tiếp. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Văn TH, Hoàng Minh T và Đào Minh Đ đang đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền thì bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Công an thành phố TH phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại bàn uống nước vị trí TH, T, Đ đang ngồi đánh bạc số tiền 5.650.000 đồng, gồm của T 2.250.000 đồng để trong ví để cạnh người; 1.700.000 đồng của Đ cất trong ví để cạnh người Đ và 1.700.000 đồng của TH để trong ví ở trên bàn; 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, trong đó có 36 quân bài tú lơ khơ, gồm các quân bài từ “A” đến “9” đã qua sử dụng để trên bàn.

Vật chứng thu giữ bao gồm: 5.650.000 đồng tiền Việt Nam; 52 quân bài tú lơ khơ đã qua sử dụng. Hiện toàn bộ số vật chứng trên đang được lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 136/CT-VKSTPTN ngày 27/02/2018, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố các bị cáo Nguyễn Văn TH, Hoàng Minh T và Đào Minh Đ về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn TH, Hoàng Minh T và Đào Minh Đ phạm tội: “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1,3 Điều 321, Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt: Nguyễn Văn TH từ 6 tháng đến 9 tháng tù.

Phạt tiền từ 10.000.000đ đến 12.000.0000đ. Hoàng Minh T từ 6 tháng đến 9 tháng tù. Phạt tiền từ 10.000.000đ đến 12.000.0000đ. Đào Minh Đ từ 6 tháng đến 9 tháng tù. Phạt tiền từ 10.000.000đ đến 12.000.0000đ.

Về vật chứng: Tịch thu xung quỹ nhà nước số tiền 5.650.000đ; tịch thu tiêu hủy 52 quân bà tú lơ khơ đã qua sử dung.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận thừa nhận việc truy tố là đúng tội, không oan. Các bị cáo xin HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để có cơ hội làm lại cuộc đời.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo, người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 25/01/2018, tại quán cà phê M thuộc tổ B, phường P, thành phố TH, các bị cáo Nguyễn Văn TH, Hoàng Minh T và Đào Minh Đ đang thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây sát phạt nhau bằng tiền, tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 5.650.000 đồng (năm triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) thì bị bắt và thu giữ vật chứng. Hành vi nêu trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố các bị cáo Nguyễn Văn TH, Hoàng Minh T và Đào Minh Đ về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 321 BLHS quy định: “ Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng...thì bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.0000đồng, phạt cải tạo không giam giữu đến 03 năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến 03 năm”.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự an toàn xã hội. Hành vi của các bị cáo cần thiết phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Trong vụ án này các bị cáo phạm tội có tính chất giản đơn, hết giờ làm việc buổi trưa mới rủ nhau đi đánh bạc, thời gian đánh bạc không lâu thì đã bị phát hiện bắt giữ, điều đó cho thấy tính chất mức độ của vụ án không lớn.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo đều xuất thân từ những gia đình cơ bản, được cha mẹ nuôi cho ăn học đến nơi đến chốn, có công ăn việc làm ổn định, chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Trong vụ án này các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 BLHS. Các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ đó là: phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa các bị cáo xuất trình các hóa đơn nộp tiền để khắc phục hậu quả nên được hưởng ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Hoàng Minh T có cụ nội và ông nội là người có công được Nhà nước tặng Bằng có công với nước; bị cáo Đào Minh Đ có thành tích công tác tốt được ngân hàng S công nhận năm 2017 nên cho hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, tính chất mức độ vụ án đơn giản, có nhân thân tốt, nhất thời phạm tội nên có căn cứ chấp nhận lời thỉnh cầu của các bị cáo, xử mức án ở đầu khung hình phạt, tạo cho các bị cáo một cơ hội để làm lại cuộc đời.

Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo tại phiên tòa là nghiêm khắc

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy trong vụ án này các bị cáo thu lợi bất chính không nhiều nên miễn hình phạt này cho các bị cáo.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra thu giữ số tiền 5.650.000đ (năm triệu sáu trăm ngàn đồng) là khoản tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước; 52 quân bài tú lơ khơ đã qua sử dụng, đây là công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Các bị cáo phải nộp án hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1, Điều 321,điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt:

- Nguyễn Văn TH: 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước về tội Đánh bạc.

Căn cứ Khoản 1, Điều 321,điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt:

- Hoàng Minh T: 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước về tội Đánh bạc.

- Đào Minh Đ: 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước về tội Đánh bạc.

2/ Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

3/ Về vật chứng: Căn cứ Điều 106  Bộ Luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 47 BLHS

- Tịch thu, tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền: 5.650.000 đồng (năm triệu, sáu trăm năm mươi ngàn đồng).

 (Tình trạng vật chứng và tiền như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 200 ngày 19/3/2018 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên và Ủy nhiệm chi số 35 ngày 12/3/2018).

- Tạm giữ của Nguyễn Văn TH số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) đã nộp vào Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên để đảm bảo thi hành án (Biên lai thu tiền số 0003604 ngày 16/4/2018).

- Tạm giữ của Hoàng Minh T số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) đã nộp vào Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên để đảm bảo thi hành án (Biên lai thu tiền số 0003603 ngày 16/4/2018).

- Tạm giữ của Đào Minh Đ số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) đã nộp vào Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên để đảm bảo thi hành án (Biên lai thu tiền số 0003605 ngày 16/4/2018).

4/ Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


44
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 158/2018/HS-ST ngày 18/04/2018 về tội đánh bạc

Số hiệu:158/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về