Bản án 158/2017/HS-PT ngày 13/03/2017 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 158/2017/HS-PT NGÀY 13/03/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 13 tháng 3 năm 201 7 , tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 130/2017/ HSPT ngày 07/02/2017 đối với bị cáo Đỗ Văn HH do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 130/2016/HSST ngày 19/12/ 2016 của Toà án nhân dân huyện ..., thành phố Hà Nội.

* Bị cáo kháng cáo: Đỗ Văn HH ; sinh năm 1981; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: ..., thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Làm Nông nghiệp; trình độ văn hoá: 01/12; con ông ĐVTT và bà ĐTTT; có vợ là NTQ (sinh năm ) và ... con (sinh các năm ...); chưa có tiền án, tiền sự; tại ngoại và không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào; vắng  mặt.

* Ngoài ra, còn có người bị hại (ông Đỗ Huy CC ; sinh năm ...; địa chỉ:..., thành phố Hà Nội): Không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; vắng mặt.

NHẬN THẤY

*  Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện ... và bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện ...thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 16/02/2016, Đỗ Văn HH và anh NVTT ra ngã ba đầu xóm ..., mỗi người uống 01 chai bia và mua táo mang v ề nhà. Trên đường về, nghe thấy có nhiều người to tiếng trong nhà ông Đỗ Huy CC nên HH đi vào góp ý với vợ chồng ông CC không nên cãi nhau ngày t ết. Ông CC mời HH ngồi uống nước, còn ông Đỗ HS (em ông CC) thì đuổi HH về nên HH chửi lại và bị ông HS xô đẩy ra ngoài cổng ngõ làm đứt cúc áo và rách áo của HH. Ông CC can ngăn và cùng anh NVT đưa HH về nhà anh NVT ngồi uống nước. Do ấm ức với ông HS nên HH chạy đến cổng nhà ông HS, chửi mắng thì bị ông HS dùng gạch ném trúng đầu; HH cũng cầm gạch ném lại làm cho cả HH  và ông HS đều bị chảy máu (sau đó, ông HS và HH đều tự chưa thương, không đi viện và đều không có yêu cầu gì về dân sự). Ông CC chạy đến can và đưa HH về nhà. Tại nhà HH, nhìn thấy ông Đỗ VTT (bố đẻ HH) đang trồng lạc dưới ruộng nên ông CC gọi ông VTT lên nói chuyện. HH đi vào sân nhà mình lấy 01 chiếc cào ruộng (có 07 răng bằng sắt, cán bằng tre) để đi đánh ông HS. Ông CC lại tiếp tục can ngăn thì bị HH giơ cào bổ nhiều nhát, trúng trán và tay trái ông CC. Ông VTT xông vào, giằng được chiếc cào trên tay HH nên HH tiếp tục chạy đến cổng nhà ông HS  thì  bị  lực  lượng  Công  an  xã  đến  ngăn  chặn.  Hậu  quả:  ông  CC  bị thương tích, điều trị tại Bệnh viện quân y 103 từ ngày 16/02/2016 đến ngày 25/02/2016.

Tại  bản  kết  luận  giám  định  thương  tích  số  1208/C45-  TT1  ngày 11/4/2016, Viện khoa học hình sự Bộ Công an (bút lục số 27) kết luận về thương tích của ông Nguyễn Huy CC như sau: Sẹo vùng trán trái không ảnh hưởng chức năng thẩm mỹ: 01%; vỡ rạn bản ngoài xương trán trái chiều dài dưới 3cm: 05%; gãy xương bàn V tay trái: 08%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%. Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương tích do vật tày tác động gây nên.

Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng là 01 chiếc cào có 07 răng bằng sắt nhọn, cán bằng tre, dài 1,08 m.

Về dân sự: Người bị hại là ông Nguyễn Huy CC yêu cầu bồi thườngthương tích tổng cộng là 44.041.000đồng; ngày 14/12/2016 (bút lục số183), HH tự nguyện giao nộp 5.000.000đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện ...để bồi thường cho người bị hại.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 130/2016/HSST ngày 19/12/2016, Toà án nhân dân huyện ..., thành phố Hà Nội đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn HH phạm tội Cố ý gây thương tích; áp dụng khoản 2 Điều 104, các điểm b và p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, khoản 3 Điều 7 và khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm b khoản4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH14 ngày 29/6/2016; xử phạt bị cáo Đỗ Văn HH 24 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, các điều kiện về thi hành án dân sự, án phí sơ thẩm và quyền khángcáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/12/2016, bị cáo Đỗ Văn HH có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

* Tại phiên tòa phúc thẩm: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo Đỗ Văn HH ; các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn HH phù hợp quy định tại các Điều 231, 233 và khoản 1 Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đỗ Văn HH đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm lần thứ hai không có lý do chính đáng; xét thấy bị cáo đã có đầy đủ các lời khai tại cấp sơ thẩm và việc vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử phúc thẩm tiếp tục phiên tòa xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 187 và khoản 2 Điều 245 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nội dung: Lời khai của bị cáo Đỗ Văn HH tại phiên toà sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai củangười bị hại, những người làm chứng, vật chứng thu giữ, các tài liệu về thương tích, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thuthập hợp pháp trong hồ sơ vụ án - Đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn nhỏ và xô xát giữa Đỗ Văn HH và ông Đỗ HS nên khoảng 15 giờ 20 phút ngày 16/02/2016, tại nhà ở của gia đình mình (địa chỉ: ..., thành phố Hà Ni), Đỗ Văn HH sử dụng hung khí nguy hiểm là 01 chiếc cào sắt (dài khoảng 1,08m cán bằng tre và có 07 răng bằng sắt) bổ nhiều nhát, gây thương tích cho ông Đỗ Huy CC  trong hoàn cảnh ông CC không có lỗi và đang can ngăn việc đánh nhau, xô xát giữa Đỗ Văn HH và ông Đỗ HS (em trai ông CC); hậu quả: Người bị hại là ông Đỗ Huy CC   bị thương tích với tỷ lệ thương tật là 13%; hành vi của Đỗ Văn HH đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” với các tình tiết “Dùng hung khí nguy hi ểm”,“Có tính chất côn đồ” và “Tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30 %”; tội phạm và hình phạt được quy định khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự (dẫn chiếu các điểm a và i khoản 1 của điều luật); bản án sơ thẩm quy kết bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Văn HH là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm sức khoẻ của người khác, gây mất trật tự, trị an tại địa phương nên cần xử lý nghiêm minh để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Bị cáo có nhân thân tốt và chưa có tiền án, tiền sự; không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” “tự nguyện bồi thường thiệt hilà các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm b và p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế và gia đình khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế (trình độ văn hóa: Lớp 01/12) và trước thời điểm bị cáo phạm tội, ông Đỗ HS (em ruột của bị hại) có một phần lỗi trong quá trình xô xát, gây đứt cúc áo của bị cáo và đã ném gạch gây thương tích cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Do bị cáo phạm tội “có tính chất côn đồ” nên bản án sơ thẩm đã buộc bị cáo phải cách ly đời sống xã hội một thời gian tương xứng là có căn cứ và đúng pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung; bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 24 tháng tù là có phần nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng bổ sung khoản 2 Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự, chấp nhận kháng cáo và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội ăn năn hối cải về hành vi phạm của mình.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, các điều kiện về thi hành án dân sự và án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 240 Bộ luật tố tụng hình sự nên Cấp phúc thẩm không xem xét.

Yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 187, khoản 2 Điều 245, điểm b khoản 2 Điều 248 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH

1. Sửa một phần bản án sơ thẩm:

-  Áp dụng khoản 2 (dẫn chiếu các điểm a và i khoản 1) Điều 104, cácđiểm b và p khoản 1 Điều 46 áp dụng khoản 2 Điều 104, các điểm b và p khoản1, khoản 2 Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 54 và khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH14 ngày 29/6/2016;

- Xử phạt bị cáo Đỗ Văn HH 18 (mười tám) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Bị cáo Đỗ Văn HH không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, các điều kiện về thi hành án dân sự và án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


88
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về