Bản án 157/2020/DS-ST ngày 27/08/2020 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 157/2020/DS-ST NGÀY 27/08/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Ngày 27 tháng 8 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 55/2020/TLST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2020/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngô Thị L, sinh năm 19xx (có mặt).

Địa chỉ: Ấp X, xã K, huyện Đ, tỉnh G.

- Bị đơn: Hồ Thị T, sinh năm 19xx (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp X, xã K, huyện Đ, tỉnh G.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo Đơn khởi kiện ngày 06/12/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Ngô Thị L trình bày: Bà làm chủ hụi, bà T có tham gia góp các phần hụi như sau:

- Dây hụi 1.000.000 đồng/tháng mở ngày 25/01/2018 âm lịch đến ngày 25/4/2019 âm lịch mãn hụi, gồm 16 phần, bà T tham gia 02 phần. Bà T hốt 02 phần hụi vào kỳ đầu tiên được 20.000.000 đồng, bà giao đủ tiền cho bà T. Sau đó, bà T góp cho bà 06 tháng hụi chết là 12.000.000 đồng thì ngưng, cho nên bà T còn nợ bà 10 tháng hụi chết là 20.000.000 đồng.

- Dây hụi 3.000.000 đồng/tháng mở ngày 15/5/2018 âm lịch đến ngày 15/10/2019 âm lịch mãn hụi, gồm 18 phần, bà T tham gia 02 phần, bà T hốt hết 02 phần vào kỳ đầu tiên được số tiền 68.400.000 đồng, bà giao đủ tiền cho bà T.

Sau đó, bà T không góp lại hụi chết cho bà nên bà T còn nợ bà 17 tháng là 102.000.000 đồng.

- Dây hụi 3.000.000 đồng/tháng mở ngày 15/5/2018 âm lịch đến ngày 15/10/2019 âm lịch mãn hụi, gồm 18 phần, bà T tham gia 01 phần, bà T hốt vào kỳ đầu tiên, được số tiền 34.200.000 đồng, bà giao đủ tiền cho bà T. Sau đó, bà T không góp lại hụi chết cho bà nên bà T còn nợ bà 17 tháng là 51.000.000 đồng.

- Dây hụi 5.000.000 đồng/tháng mở ngày 15/5/2018 âm lịch đến ngày 15/10/2019 âm lịch mãn hụi, gồm 18 phần, bà T tham gia 01 phần, bà T hốt vào kỳ đầu tiên, được số tiền 57.000.000 đồng, bà giao đủ tiền cho bà T. Sau đó, bà T không góp lại hụi chết cho bà nên bà T còn nợ bà 17 tháng là 85.000.000 đồng.

Bà phải góp thay số tiền hụi chết cho bà T, đến nay các phần hụi đã mãn, tổng cộng bà T còn nợ bà số tiền hụi là 258.000.000 đồng nhưng bà T đã trả cho bà 8.000.000 đồng nên nay bà yêu cầu bà T trả số tiền là 250.000.000 đồng, khi bản án có hiệu lực pháp luật.

* Tại Biên bản lấy lời khai bị đơn bà Hồ Thị T trình bày: Bà có tham gia góp hụi do bà L làm chủ hụi, cụ thể như sau:

- Dây hụi 1.000.000 đồng/tháng mở ngày 25/01/2018 âm lịch, gồm 16 phần, bà tham gia 02 phần.

- Dây hụi 3.000.000 đồng/tháng mở ngày 15/5/2018 âm lịch, gồm 18 phần bà tham gia 02 phần.

- Dây hụi 3.000.000 đồng/tháng mở ngày 15/5/2018 âm lịch, gồm 18 phần bà tham gia 01 phần.

- Dây hụi 5.000.000 đồng/tháng mở ngày 15/5/2018 âm lịch, gồm 18 phần bà tham gia 01 phần.

Bà đã hốt hết các phần hụi này được bao nhiêu tiền thì bà không nhớ. Nay bà thừa nhận còn nợ bà L số tiền là 250.000.000 đồng nhưng do kinh tế khó khăn nên bà không có khả năng trả cho bà T.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Và về việc giải quyết vụ án Kiểm sát viên đề nghị: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L, buộc bà T có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền hụi còn nợ là 250.000.000 đồng, khi án có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Theo nội dung đơn khởi kiện và lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử xác định tranh chấp giữa bà L và bà T là quan hệ tranh chấp hợp đồng góp hụi theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về yêu cầu khởi kiện: Tại phiên tòa, bà L yêu cầu bà T có nghĩa vụ trả số tiền là 250.000.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật. Nhận thấy, tại Biên bản lấy lời khai (BL 23), bà T thừa nhận còn nợ bà L số tiền 250.000.000 đồng nhưng do kinh tế gia đình khó khăn nên không có khả năng trả tiền cho bà L. Hiện nay, các phần hụi bà T tham gia đều đã mãn, bà L phải góp thay cho bà T các phần hụi chết như đã nêu nhưng đến nay bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã làm ảnh hưởng đến quyền L của bà L. Do đó, yêu cầu của bà L là có cơ sở, phù hợp với khoản 1 Điều 24 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bà T có nghĩa vụ trả lại bà L số tiền còn nợ là 250.000.000 đồng, khi án có hiệu lực pháp luật.

Về yêu cầu trả lãi, bà L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Xét thấy, ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà T có nghĩa vụ trả nợ nên bà T phải chịu án phí theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Bà L không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 471, Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 24 Nghị định 19/2019/NĐ-CP của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị L.

- Buộc bà Hồ Thị T có nghĩa vụ trả cho bà Ngô Thị L số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bà L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà T chậm trả khoản tiền nêu trên thì hàng tháng bà T phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà T phải chịu án phí là 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).

- Hoàn lại bà L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.250.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai số 0017611 ngày 28/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà L được quyền kháng cáo bản án đến Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang để xét xử phúc thẩm. Riêng bà T thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

56
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 157/2020/DS-ST ngày 27/08/2020 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:157/2020/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gò Công Đông - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:27/08/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về