Bản án 157/2019/HS-PT ngày 07/10/2019 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 157/2019/HS-PT NGÀY 07/10/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 07 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 168/2019/TLPT-HS ngày 06 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo Chu L. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 180/2019/HS-ST ngày 05/8/2019 của Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Bị cáo có kháng cáo:

Chu L, sinh năm 1986, tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: Số 4, khu phố B, phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Chu T (đã chết) và bà Tống L, sinh năm 1962; vợ Lý H, sinh năm 1987 và 02 người con sinh (lớn sinh năm 2015 và nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại, người đại diện hợp pháp bị hại, bị đơn dân sự nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chu L có giấy phép lái xe hạng FC, số 790103003878 do Sở giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/12/2015 có giá trị đến ngày 02/12/2020. Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/11/2018, Chu L điều khiển xe ô tô tải biển số 61C-xxx.82 lưu thông trên đường Nguyễn V. T hướng từ ngã tư B. H về ngã ba C. Liễu. Khi đến đoạn ngã ba giao nhau giữa đường Nguyễn V. T với đường số 1, khu tái định cư thuộc khu phố Đ, phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương, Chu L điều khiển xe chuyển hướng rẽ phải thì bánh trước bên phụ xe ô tô tông vào phía đuôi xe mô tô biển số 61C1-yyy 95 do bà Lê T điều khiển chở bà Lê K đang lưu thông cùng chiều phía trước làm xe mô tô biển số 61C-yyy.95 ngã xuống đường, bà K và bà T bị xe ô tô tải cuốn vào gầm xe làm bà K chết sau khi cấp cứu, bà T bị thương ở chân phải.

Theo biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn, xác định như sau:

- Hiện trường vụ tai nạn giao thông là ngã ba đường Nguyễn V.T. giao nhau với đường số 01 khu tái định cư thuộc khu phố Đ, phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Đường trải nhựa phẳng, hơi cong phía bên trái. Đường Nguyễn V. T rộng 13m, có vạch sơn liền ở giữa đường chia đường thành 02 chiều lưu thông. Phần đường bên phải làm chuẩn, hướng từ cây xăng số 4 về ngã ba C.Liễu rộng 7m, phần đường ngoài cùng rộng 5m, phần đường trong cùng rộng 2m. Đường số 01 khu tái định cư rộng 8m.

- Xe ô tô tải biển số 61C-xxx.82 chuyển hướng đỗ trên đường số 01, khu tái định cư khu phố Đ, phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Đầu xe quay về hướng phường B, trục bánh trước bên phải của xe ô tô tải cách lề đường bên phải là 3m và cách cột điện số 01 là 5,3m; trục bánh sau cùng bên phải cách lề đường bên phải là 0,4m.

- Xe mô tô biển số 61C-yyy.95 ngã nghiêng bên phải nằm trên mặt đường chạm vào bánh trước bên trái của xe ô tô tải, đầu xe quay về hướng lề đường bên trái, trục bánh sau của xe mô tô cách lề đường bên phải là 4,3m, trục bánh trước của xe mô tô cách lề đường bên phải là 5,4m. Xe mô tô sau khi ngã để lại vết cày dài trên mặt đường là 12m; đầu vết cày cách lề đường bên phải là 1,8m; cuối vết cày nằm giữa xe mô tô.

- Dấu vết trên xe ô tô tải mang biển số 61C-xxx.82: Cản đầu xe bên phải bị xước kích thước 2cm x 0,2cm, cách mặt đất 75cm. Mặt ngoài bậc lên xuống xe bên phải bị xước, kích thước 3cm x 0,2cm cách mặt đất 53cm.

- Dấu vết trên xe mô tô biển số 61C-yyy.95: Kính chiếu hậu bên phải bể vỡ, đầu tay thắng bên phải mài mòn, mũi vè trước mài mòn kích thước 5cm x 3cm, yếm chắn gió bên phải mài mòn kích thước 35cm x 3cm, mặt ngoài để chân bên phải mài mòn kích thước 20cm x 5cm, hông mài mòn kích thước 12cm x 5cm, mặt ngoài ống xả mài mòn 25cm x 6cm, biển số bị gãy, đèn xi nhan sau trầy xước kích thước 6cm x 4cm.

Kết luận giám định số 30/GĐ-PC09 ngày 19/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận như sau:

- Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô tải biển số 61C-xxx.82 với xe mô tô biển số 61C1-yyy.95 là mặt ngoài, mặt lăn bánh trước bên phải của xe ô tô va chạm vào góc dưới bên trái biển kiểm soát, canh trái vè sau, ốp nhựa bên trái đuôi, mặt sau lọc gió xe mô tô.

- Cơ chế hình thành dấu vết trên xe ô tô biển kiểm soát 61C-xxx.82 và xe mô tô biển số 61C1-yyy.95 là: Xe ô tô đang lưu thông trên đường Nguyễn V. T hướng từ ngã tư cây xăng số 4 đi ngã ba C.Liễu, khi đến ngã ba giao nhau với đường số 01 xe ô tô chuyển hướng rẽ phải thì xảy ra va chạm với xe mô tô lưu thông cùng chiều phía trước làm xe mô tô đổ ngã qua phải, trượt trên mặt đường tạo ra dấu vết trên phương tiện, gây ra vụ tai nạn giao thông trên.

Biên bản đo nồng độ cồn trong hơi thở lập vào lúc 14 giờ 24 phút ngày 18/11/2018 đối với Chu L xác định nồng độ tại thời điểm kiểm tra là 0,000mg/l. Theo Kết luận giám định pháp y về tử thi số 939/GĐPY ngày 20/11/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận nguyên nhân tử vong của bà Lê K là do đa chấn thương, dập rách phổi, vỡ tim.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 180/2019/HS-ST ngày 05/8/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Chu L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Chu L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 14/8/2019, bị cáo Chu L kháng cáo xin hưởng án treo. Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Về thời hạn kháng cáo, đơn kháng cáo của bị cáo Chu L đúng theo thời hạn luật định. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Chu L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xét thấy bị cáo đã không quan sát, đảm bảo an toàn cho các phương tiện khác trước khi chuyển hướng nên đã gây ra tai nạn làm một người chết và một người bị thương. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự về giao thông đường bộ, an ninh, trật tự địa phương, dẫn đến bị hại tử vong. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù là nghiêm khắc, do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo L, xử phạt bị cáo với mức án từ 14 tháng đến 15 tháng tù giam.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 18/11/2018, tại đoạn ngã ba giao nhau giữa đường Nguyễn V. T với đường số 1 khu tái định cư thuộc khu phố Đ, phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương, Chu L điều khiển xe ô tô tải biển số 61C-xxx.82 từ đường Nguyễn V. T rẽ phải vào đường số 1, khu tái định cư, thuộc khu phố Đ, phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Do thiếu quan sát nên bánh trước bên phụ xe ô tô tông vào phía đuôi xe mô tô biển số 61C1-yyy.95 do bà Lê T điều khiển chở bà Lê K đang lưu thông cùng chiều phía trước làm xe mô tô biển số 61C- yyy95 ngã xuống đường, bà K và bà T bị xe ô tô tải cuốn vào gầm xe làm bà K chết sau khi cấp cứu, bà T bị thương ở chân phải.

Hành vi của bị cáo Chu L điều khiển xe ô tô tải tham gia giao thông khi chuyển hướng nhưng không quan sát gây nguy hiểm cho phương tiện khác đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ. Hậu quả là sau va chạm bà Lê K tử vong, bà Diệp bị thương nhưng từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo về việc xin hưởng án treo: Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội và xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo, tuy nhiên, với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo làm chết 01 người, bị thương 01 người là nghiêm trọng nên việc cho bị cáo hưởng án treo sẽ không đủ tính răn đe, giáo dục trong tình hình tai nạn giao thông hiện nay. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

[3] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[4] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Chu L phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Chu L; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm 180/2019/HS-ST ngày 05/8/2019 của Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Chu L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2.Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Chu L phải nộp 200.000 đồng.

3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


76
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về