Bản án 156/2019/HSST ngày 23/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 156/2019/HSST NGÀY 23/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23 tháng 4 năm 2019, tại Hội trường, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 151/2019/HSST, ngày 20 tháng 3 năm 2019, đối với bị cáo:

- Họ và tên: Chu Ngọc A; Giới tính Nam; Tên gọi khác: Không.

- Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1977 tại Thái Nguyên

- Nơi cư trú Xóm X, xã Đ, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Chức vụ (Đảng, đoàn thể, chính quyền) trước khi phạm tội: Không; Con ông: Chu Ngọc M, sinh năm 1954; Con bà: Trần Thị L, sinh năm 1954; Gia đình có 4 anh, em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Ma Thị H, sinh năm 1982; Có 02 con: Lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2013.

- Tiền sự: Không.

- Tiền án: 01

+ Tại bản án số 56/2017/HSST ngày 09/3/2017, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Tài sản trộm cắp giá trị 1.000.000 đồng. Ra trại ngày 02/11/2017.

- Nhân thân:

+ Tại Quyết định số 28/QĐ-XPHC ngày 27/7/2016, UBND xã Đồng Thịnh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong ngày 10/8/2016.

+ Tại Quyết định số 08/QĐ-XPHC ngày 11/2/2011, Công an xã Trung Lương, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” Chấp hành xong ngày 12/7/2011.

+ Tại bản án số 11/2012/HS ST ngày 15/02/2012, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phí tháng 4/2014. Ra trại ngày 09/5/2012.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/12/2018). (Có mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến:

Anh Hoàng Đ, sinh năm 1991. (vắng mặt tại phiên tòa)

Nơi cư trú: Tổ X, phường P, thành phố TN.

Ông Vũ Ngọc C, sinh năm 1947. (vắng mặt tại phiên tòa)

Nơi cư trú: Tổ Y, phường P, thành phố TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 35 phút ngày 07/12/2018, tổ công tác Công an phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ Y, phường P, thành phố TN thì phát hiện một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã tiếp cận, yêu cầu kiểm tra, người đàn ông tự khai là Chu Ngọc A. Qua kiểm tra, Ngọc A tự giác giao nộp cho tổ công tác 02 (hai) gói được gói bằng giấy bạc màu vàng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng lấy từ lòng bàn tay trái. Ngọc A khai là Heroine mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Chu Ngọc A và thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của Chu Ngọc A có khối lượng 0,138 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 105/KL-PC09 ngày 13/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Chu Ngọc A là chất ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,138 gam.

Tại cơ quan điều tra, Chu Ngọc A khai nhận: Khoảng Khoảng 08 giờ ngày 07/12/2018, Ngọc A đi xe bus đi từ nhà ở xóm X, xã Đ, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực bến xe khách Thái Nguyên mới thuộc phường Đồng Quang, thành phố Thái Nguyên để mua ma túy sử dụng. Tại đây, Ngọc A gặp và mua 02 (hai) gói Heroine của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng. Sau đó, Ngọc A cầm 02 (hai) gói Heroine trong lòng bàn tay trái, đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 35 phút, khi Ngọc A đi đến khu vực tổ Y, phường P, thành phố TN thì bị tổ công tác Công an phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.

Vật chứng của vụ án là: 01 bì niêm phong ký hiệu A1.

Hiện được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 159/ CT-VKSTPTN, ngày 19/3/ 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố Chu Ngọc A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 08 giờ ngày 07/12/2018, Ngọc A đi xe bus đi từ nhà ở xóm X, xã Đ, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực bến xe khách Thái Nguyên mới thuộc phường Đồng Quang, thành phố Thái Nguyên để mua ma túy sử dụng. Tại đây, Ngọc A gặp và mua 02 (hai) gói Heroine của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng. Sau đó, Ngọc A cầm 02 (hai) gói Heroine trong lòng bàn tay trái, đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 35 phút, khi Ngọc A đi đến khu vực tổ Y, phường P, thành phố TN thì bị tổ công tác Công an phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Chu Ngọc A, đã công bố bản luận tội đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Chu Ngọc A từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/12/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy vật chứng: 01 bì niêm phong đúng quy định kí hiệu A1 (Bì niêm phong chứa chất ma túy). Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ -UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST nộp ngân sách nhà nước.

Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan.

Bị cáo nói lời sau cùng xin hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

- Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong vật chứng, biên bản cân xác định trọng lượng, Kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và những chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 10 giờ 35 phút ngày 07/12/2018, tại khu vực tổ Y, phường P, thành phố T N, Chu Ngọc A có hành vi tàng trữ 0,138 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng.

Như vậy, hành vi của bị cáo Chu Ngọc A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hành vi phạm tội của bị cáo Chu Ngọc A vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy ... thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...

Do vậy bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.

- Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền về ma túy của nhà nước, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe, kinh tế của bản thân bị cáo. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Nên cần có hình phạt tương xứng với tội trạng của bị cáo gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo Chu Ngọc A là người đã 01 có tiền án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, nghiện ma túy, đã nhiều lần bị xét xử và xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng sau khi chấp hành án xong không chịu tu dưỡng, rèn luyện và cai nghiện để trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo là người nghiện ma túy, phạm tội thuộc hường hợp tái phạm, ý thức chấp hành pháp luật kém. Vì vậy, cần có một mức án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lời bất chính và qua xác minh thấy ràng bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý các vật chứng sau:

Đối với vật chứng là 01 bì niêm phong kí hiệu A1 (Bì niêm phong chứa chất ma túy), do đó cần tịch thu tiêu hủy.

- Về những vấn đề khác:

Áp dụng Điều 329 Bộ luật TTHS năm 2015 tiếp tục tạm giam bị cáo Chu Ngọc A thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp sung quỹ Nhà nước, theo quy định của pháp luật.

Thông báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Trong vụ án này có người bán ma túy cho bị cáo A nhưng không xác định được nhân thân lai lịch nên không xem xét xử lý.

Bởi các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Chu Ngọc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt:

Xử phạt: Chu Ngọc A 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/12/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng: Điều 329 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Quyết định tạm giam bị cáo Chu Ngọc A 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong kí hiệu A1 (Bên trong có chứa ma túy).

(biên bản giao nhận vật chứng số 224 ngày 25/3/2019).

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST sung quỹ Nhà nước.

Quyền kháng cáo: Bị cáo Chu Ngọc A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


30
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 156/2019/HSST ngày 23/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:156/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về