Bản án 155/2020/HNGĐ-ST ngày 16/07/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 155/2020/HNGĐ-ST NGÀY 16/07/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 16 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:1139/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2019 về việc :Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 82/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thu T, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn Đ, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh Thường Q, sinh năm 1982 Địa chỉ: Ấp Tân B, xã Hòa Khánh T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. (Chị T có mặt, anh Q vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 23 tháng 10 năm 2019 và những lời khai tiếp theo cũng như tại phiên tòa, chị Phạm Thu T trình bày: Chị và anh Nguyễn Mạnh Thường Q có tìm hiểu nhau thời gian 03 tháng, sau đó chung sống với nhau vào năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến tháng 4 năm 2014 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do cuộc sống không phù hợp, thường xuyên cải vã nhau, đồng thời anh Q không lo làm ăn, nên chị và anh Q ly thân nhau từ tháng 01 năm 2016 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn với anh Nguyễn Mạnh Thường Q.

Về con chung: Chị và anh Q chung sống sinh được 01 con chung tên Nguyễn Phạm Thiên P sinh ngày 30 tháng 8 năm 2016, khi ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không có Về nợ chung: Không có.

Đối với anh Nguyễn Mạnh Thường Q từ khi Tòa án thụ lý vụ án và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng anh Q vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Phạm Thu T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh Thường Q, anh Q có địa chỉ thường trú tại; ấp Tân B, xã Hòa Khánh T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An được Công an xã Hòa Khánh T xác nhận và có mặt tại địa phương nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thu T và anh Nguyễn Mạnh Thường Q có tìm hiểu nhau thời gian 03 tháng, sau đó chung sống với nhau vào năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An, nên hôn nhân giữa chị T và anh Q là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Trong quá trình chung sống, chị T cho rằng do cuộc sống không phù hợp, thường xuyên cải vã nhau và anh Q không lo làm ăn, nên chị và anh Q đã ly thân từ tháng 01 năm 2016 đến nay. Mâu thuẫn giữa chị và anh Q cũng không được gia đình hai bên và chính quyền địa phương giải quyết. Đối với anh Nguyễn Mạnh Thường Q, từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay anh Q không đến Tòa án cũng như gởi văn bản phản hồi ý kiến về việc xin ly hôn của chị T, anh Q cũng không đưa ra được hướng đoàn tụ với chị T. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng đời sống chung vợ chồng của chị T và Quân không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh Q là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4]. Về con chung: Chị T và anh Q chung sống sinh được 01 người con tên Nguyễn Phạm Thiên P sinh ngày 30 tháng 8 năm 2016, chị T đang nuôi.

Tại phiên tòa hôm nay chị T xin được tiếp tục nuôi con chung, đối với anh Q vắng mặt và cũng không có văn bản phản hồi ý kiến về việc xin nuôi con của chị T. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng từ khi chị T và anh Q ly thân với nhau chị T trực tiếp nuôi con, để đảm bảo sự phát triển bình thường của con, nên cần tiếp tục giao con cho chị T tiếp tục nuôi là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Tại phiên tòa hôm nay chị T không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.

[5]. Về tài sản chung: Chị T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. xét.

 [6]. Về nợ chung: Chị T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem

[7]. Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự:

Căn cứ vào các Điều 9 và Điều 56 Điều 81 Điều 82 Điều 83 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thu T đối với anh Nguyễn Mạnh Thường Q về việc “Ly hôn”.

Chị Phạm Thu T được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh Thường Q.

2. Về con chung: Chị T được tiếp tục nuôi con tên Nguyễn Phạm Thiên P sinh ngày 30 tháng 8 năm 2016 (chị T đang nuôi) anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị T không yêu cầu.

Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Khi cần thiết các bên có thể thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị Phạm Thu T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004035 ngày 03/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa sang án phí để thi hành. Như vậy chị T không phải nộp tiếp.

Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 155/2020/HNGĐ-ST ngày 16/07/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:155/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:16/07/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về