Bản án 155/2019/HNGĐ-ST ngày 29/08/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 155/2019/HNGĐ-ST NGÀY 29/08/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 29 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2735/2018/ TLST-HNGĐ ngày 26/12/2018, về việc: “Ly hôn” Theo Quyết định đưa vụ án xét xử số 123/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 238/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29/7/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Ngọc S, sinh năm 1982 (có mặt)

Cư trú: 113/27, tổ 1, khu phố 5, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Bà Đinh Thị A, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Cư trú: 113/27, tổ 1, khu phố 5, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai của ông Lê Ngọc S trình bày:

Ông và bà A xây dựng gia đình vào năm 2008 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường 5, thị xã Đ (nay là thành phố Đ) tỉnh Quảng Trị, giấy kết hôn số 33/2008, quyển số: 01 ngày 20/3/2008.

Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường, sau khi sinh con đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cãi vả và dẫn đến xung đột, không tôn trọng lẫn nhau. Đã nhiều lần vợ chồng tìm cách giải quyết mâu thuẩn nhưng không kết quả. Nay ông xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông xin được ly hôn với bà A.

Về con chung: có 01 cháu: Lê Ngọc Tú N, sinh ngày 07/9/2014, ông xin được nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu bà A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận giải quyết. Nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Ông Lê Ngọc S xin ly hôn bà Đinh Thị A là bị đơn, cả hai đều tạm trú tại phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B.

Bà Đinh Thị A đã được Tòa án tống đạt triệu tập, niêm yết nhiều lần để làm việc, công khai việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử nhưng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 207, Điều 208; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố B tiến hành đưa vụ án xét xử theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: ông S và bà A xây dựng gia đình vào năm 2008 trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 20/3/2008 tại UBND tại UBND phường 5, thị xã Đ (nay là thành phố Đ) tỉnh Quảng Trị, nên căn cứ Điều 9,11,12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Sau khi xây dựng gia đình ông S, bà A chung sống hạnh phúc bình thường; sau khi sinh con cháu N thì năm 2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, thường xuyên cãi vả và dẫn đến xung đột, không tôn trọng lẫn nhau. Đã nhiều lần vợ chồng tìm cách giải quyết mâu thuẩn nhưng không kết quả. Nay ông S xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông xin được ly hôn với bà A.

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nhiều lần mời bà Sang đến làm việc tại Tòa án nhưng bà A không đến, Tòa án không tiến hành hòa giải được; Xét thấy, tình trạng hôn nhân của vợ chồng ông S, bà A có kéo dài thời gian cũng không cải thiện được tình cảm vợ chồng, khi bà A đã bỏ mặc tình trạng hôn nhân của mình không quan tâm đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, mặc khác ông S cung cấp chứng cứ là giấy xác nhận của chính quyền địa phương xác nhận tình trạng hôn nhân của vợ chồng ông S, bà A mâu thuẩn là có thật, mục đích hôn nhân không đạt; Căn cứ Điều 51, 56 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn xin ly hôn của ông S cho ông S được ly hôn với bà A để trả tự do cho nhau.

[3] Về con chung: Có 01cháu: Lê Ngọc Tú N, sinh ngày 07/9/2014, ông S đề nghị giao cháu cho bà A chăm sóc nuôi dưỡng, quá trình Tòa án giải quyết chưa có ý kiến trình bày của bà A nhưng xét thấy cháu N còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn nên giao cháu cho bà A chăm sóc nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con do chưa có ý kiến của bà A nên tạm thời ông S không cấp dưỡng, khi bà A có yêu cầu thì ông S phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.

Ông S được quyền thăm nom con không ai cản trở.

Vì quyền lợi của trẻ khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung; về nợ chung: do chưa có ý kiến trình bày của bà A về tài sản và nợ chung nên giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các bên có yêu cầu.

[5] Án phí ly hôn sơ thẩm: ông S nộp 300.000đ

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 207, Điều 208; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 9,11,12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

- Áp dụng Điều 51,53,56,58,81,82,83,84 và Điều 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Lê Ngọc S. Ông Lê Ngọc S được ly hôn với bà Đinh Thị A

Về con chung: Giao cháu Lê Ngọc Tú N, sinh ngày 07/9/2014, cho bà Đinh Thị A chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm thời ông Lê Ngọc S không cấp dưỡng nuôi con. Ông S được quyền thăm nom con không ai cản trở.

Vì quyền lợi của trẻ khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung; về nợ chung: giải quyết bằng vụ kiện khác khi các bên có yêu cầu.

Về án phí: ông Lê Ngọc S nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 009840 ngày 05/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

Ông Lê Ngọc S được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Đinh Thị A vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại địa phương theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

78
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 155/2019/HNGĐ-ST ngày 29/08/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:155/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về