Bản án 155/2019/HNGĐ-ST ngày 24/06/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 155/2019/HNGĐ-ST NGÀY 24/06/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 24 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công Ki vụ án dân sự thụ lý số 241/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2019 về “tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp CN, xã ĐB, thành phố CM, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Chị Phạm Thúy P, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã KB, huyện TVT, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện ngày 24/3/2019 và đơn xin từ chối tham gia giải quyết vụ án ngày 07/6/2019 anh Nguyễn Văn K trình bày: Anh và chị Phạm Thúy P tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1999 và đến nay không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng không có con chung; lúc đầu chung sống hạnh phúc nhưng thời gian gần đây với nhiều lý do khác nhau vợ chồng không còn thương yêu nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly thân hơn 03 năm. Nay anh yêu cầu giải quyết cho ly hôn. Về con chung, tài sản và nợ chung anh xác định không có.

- Bị đơn chị Phạm Thúy P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến, yêu cầu gì đối với nội dung anh K khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị P đã được Tòa án triệu tập tham gia hòa giải và phiên tòa sơ thẩm hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; anh K vắng mặt có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 207 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh K, chị P là đúng quy định.

[2] Về hôn nhân: Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án anh K xác định thời gian chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với chị P. Đối với chị P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng đến nay không có ý kiến phản bác hay yêu cầu gì đối với nội dung khởi kiện của anh K, cho thấy chị P chấp nhận các yêu cầu của anh K đặt ra. Do đó, có cơ sở cho rằng điều kiện đi đến hôn nhân, không đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn và thời gian ly thân như anh K trình bày là có cơ sở, phù hợp với xác nhận không có đăng ký kết hôn của UBND xã KB, huyện TVT và UBND xã ĐB, thành phố CM vào ngày 25/3/2019 do anh K giao nộp. Như vậy, anh K và chị P tổ chức đám cưới, chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999 cho đến nay không có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền là vi phạm quy định về việc đăng ký kết hôn. Tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: "Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này...", đối chiếu điều luật viện dẫn, Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu ly hôn của anh K, mà cần tuyên bố quan hệ hôn nhân giữa anh K và chị P không được pháp luật công nhận vợ chồng là có căn cứ.

[3] Quá trình chung sống anh K và chị P không có con chung, tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết là phù hợp.

[4] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm anh K phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử: Không công nhận quan hệ giữa anh Nguyễn Văn K và chị Phạm Thúy P là vợ chồng.

Án phí hôn nhân gia đình anh K phải chịu 300.000 đồng, anh dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0002964 ngày 12/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời nay được chuyển thu, anh K đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

73
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 155/2019/HNGĐ-ST ngày 24/06/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:155/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:24/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về