Bản án 155/2019/HNGĐ-ST ngày 10/09/2019 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 155/2019/HNGĐ-ST NGÀY 10/09/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 10 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 169/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3606/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Mai Thị N, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn A, xã A1, huyện A2, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Bùi Thế H, sinh năm 1975; nơi cư trú: B, Thụy Điển; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 7 năm 2019 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Mai Thị N trình bày:

Chị và anh Bùi Thế H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng vào ngày 12 tháng 02 năm 2015. Sau khi kết hôn, chị và anh H có chung sống với nhau một tuần tại Việt Nam, sau đó anh H trở về Thụy Điển để lo thủ tục bảo lãnh cho chị sang đoàn tụ. Tuy nhiên khoảng thời gian từ đó đến nay, anh H vì lý do kinh tế không đảm bảo nên đã không bảo lãnh được cho chị sang Thụy Điển đoàn tụ. Chị đã một lần đến Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam để phỏng vấn nhưng hồ sơ của chị cũng bị từ chối. Đến nay thời gian chờ đợi đã lâu, chị và anh H mỗi người sống một nước, anh H không có ý định về Việt Nam sống còn chị thì không có cách nào để sang Thụy Điển được nên khả năng đoàn tụ vợ chồng là không có, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Thế H.

Về con chung và tài sản chung: Chị và anh Bùi Thế H không có con chung và không có tài sản gì chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong bản tự khai gửi đến Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, bị đơn là anh Bùi Thế H trình bày thống nhất với chị Mai Thị N về thời gian kết hôn, quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng. Anh Bùi Thế H có quan điểm đồng ý với yêu cầu ly hôn mà chị N đưa ra. Anh Bùi Thế H thống nhất lời khai với của chị N về việc vợ chồng không có con chung và tài sản chung, cùng có quan điểm không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh Bùi Thế H đang ở nước ngoài, theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Mai Thị N có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Bùi Thế H. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Bùi Thế H hiện đang cư trú tại Thụy Điển nên theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Tại phiên tòa, cả chị Mai Thị N và anh Bùi Thế H đều vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt chị Mai Thị N và anh Bùi Thế H.

- Về nội dung:

[3] Chị Mai Thị N và anh Bùi Thế H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 12 tháng 02 năm 2015, theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị N và anh Bùi Thế H cùng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn do mỗi người sống một nước, khả năng đoàn tụ không có. Nay, cả hai người cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên việc chị Mai Thị N có đơn xin ly hôn với anh Bùi Thế H là có căn cứ chấp nhận. Xét quan hệ hôn nhân của chị Mai Thị N và anh Bùi Thế H là không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đề nghị xin được ly hôn của chị Mai Thị N đối với anh Bùi Thế H.

[5] Về con chung và tài sản chung: Chị Mai Thị N và anh Bùi Thế H thống nhất xác định vợ chồng không có con chung, tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí sơ thẩm: Chị Mai Thị N là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Mai Thị N và anh Bùi Thế H được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị N được ly hôn anh Bùi Thế H.

2. Về án phí: Chị Mai Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Mai Thị N đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0001962 ngày 31 tháng 7 năm 2019 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng được trừ vào tiền án phí ly hôn chị Mai Thị N phải chịu. Chị Mai Thị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Mai Thị N được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. Anh Bùi Thế H được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

94
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 155/2019/HNGĐ-ST ngày 10/09/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:155/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:10/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về