Bản án 1548/2007/KDTM-ST ngày 28/08/2007 về tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1548/2007/KDTM-ST NGÀY 28/08/2007 VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH

Ngày 28 tháng 08 năm 2007 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 732/2006/TLST-KDTM ngày 09 tháng 11 năm 2006 tranh chấp kinh doanh thương mại về “ hợp đồng cho thuê tài chính “ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1323/2007/QĐST-KDTM ngày 13 tháng 07 năm 2007 giữa các đương sự :

Nguyên đơn : Công ty cho thuê tài chính II-Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Địa chỉ: 146 Nguyễn Công Trứ Quận 1 TP.Hồ chí Minh.

Đại diện do uỷ quyền : Ông Trần Ngọc Bảo

Địa chỉ LL : 24C/18B Trần Thái Tông,P.15 Q.Tân Bình.

( Văn bản uỷ quyền ngày 06/10/2006 )

Bị đơn: Công ty TNHH Xây dựng và Kinh doanh nhà Long Trường

Địa chỉ : 27 Lã Xuân Oai, P.Long Trường Quận 9.

Đại diện uỷ quyền : Ông Trương Văn Rán .

Địa chỉ cư trú : 361/35/19 KP3 Bình Đông, P.15 Quận 8

( Văn bản uỷ quyền ngày 06/01/2007 )

NHẬN THẤY

Trong đơn khởi kiện nộp ngày 06 tháng 10 năm 2006 nguyên đơn là Công ty cho thuê tài chính II Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và các ý kiến tiếp theo của ông Trần Ngọc Bảo là đại diện do uỷ quyền trình bày trong quá trình hoà giải và tại phiên Toà thì vào ngày 20/02/2004 nguyên đơn và có bị đơn là Công ty TNHH XD&KD nhà Long Trường có ký hợp đồng cho thuê tài chính số 192B/2004/HĐCTTC và các phụ lục kèm theo về việc nguyên đơn cho bị đơn thuê tài sản là Cẩu bánh xích P&H 955A, đã qua sử dụng, SK : 61613, SM : 045850105; giá trị tài sản cho thuê là 387.284.730 đồng, thỏa thuận trả trước là 24.030.552 đồng, dư nợ thực tế phải thanh toán là 363.254.178 đồng, thanh toán trong 36 tháng, lãi suất áp dụng năm đầu là 0,97%/tháng, mục đích thuê là sử dụng tài sản để bốc dỡ cát gia công phục vụ sản xuất của doanh nghiệp. Ngoài ra, nguyên đơn còn đồng ý cho bị đơn được ân hạn trả nợ gốc 6 tháng kể từ ngày nhận nợ nhằm có thời gian hoàn thiện tài sản theo nhu cầu sử dụng. Tuy nhiên, bị đơn không thực hiện việc trả lãi thuê và tiếp tục xin gia hạn trả nợ thêm 3 tháng với lý do việc sửa chữa chưa thực hiện xong, nguyên đơn đã chấp nhận và yêu cầu bị đơn phải thực hiện việc trả lãi Ngày 20/12/2004 đã bàn giao tài sản mà các bên đã kiểm tra và đồng ý nhận và bị đơn lại tiếp tục có công văn yêu cầu xin gia hạn thêm 6 tháng nhưng nguyên đơn có văn bản trả lời không chấp nhận và yêu cầu bị đơn thực hiện các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng. Sau đó, do bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả lãi nên nguyên đơn đã ra Quyết định thu hồi tài sản số 0114/CTTCII-QĐ, tuy nhiên, đến ngày 03/8/2006 mới thu hồi được do có sự tranh chấp giữa bị đơn với bên sửa chữa tài sản cho thuê. Ngày 06/10/2006 tài sản đã được tiến hành định giá và bán đấu giá theo quy định của pháp luật. Nay do bị đơn vi phạm hợp đồng nên nguyên đơn yêu cầu Tòa buộc bị đơn thanh toán ngay số tiền nợ thuê sau khi khấu trừ vào tiền bán tài sản, bị đơn còn phải trả nợ gốc là 265.984.178 đồng và nợ lãi là 172.232.392 đồng, tổng cộng là 438.216.570 đồng trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.

Tại văn bản tự khai ngày 06/01/2007 của bị đơn là Công ty TNHH XD-KD nhà Long Trường và các ý kiến tiếp theo của ông Trường văn Rán là đại diện uỷ quyền trong quá trình hoà giải và tại phiên Toà đã xác nhận có ký kết và thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính như nguyên đơn trình bày. Tuy nhiên, khi bàn giao tài sản thuê là xe cẩu trong tình trạng hư hỏng phải đầu tư sửa chữa đại tu nhưng vẫn không hoạt động được, vì vậy tài sản thuê chỉ có giá trị là 285.000.000 đồng. Nay bị đơn không chấp nhận yêu cầu tính lãi suất và lãi phạt quá hạn vì đã có nhiều văn bản đề nghị nguyên đơn cho bị đơn ráp tài sản thuê như hiện trạng cũ để hoàn trả vì bị đơn chưa sử dụng ngày nào. Ngoài ra, việc bán đấu giá tài sản thuê bị đơn cũng không chấp nhận vì bị đơn không được thỏa thuận về việc thanh lý tài sản nguyên đơn và không được thông báo, đồng thời, giá bán xe thấp hơn giá thu mua sắt phế liệu ở ngoài thị trường vì chỉ bán xe với giá là 97.270.000 đồng, trong khi giá trị xe thời điểm này phải được tính là 4.500 đồng/kg x 50.000 kg = 225.000.000 đồng, do đó đề nghị Tòa công nhận giá xe đã bán với số tiền như trên.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết qủa hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn thanh toán số tiền 438.216.570 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 265.984.178 đồng và lãi 172.232.392 đồng phát sinh từ hợp đồng thuê tài chính số 192B/2004/HĐCTTC ngày 20/02/2004 như sau :

Xét yêu cầu đòi nợ trên là có cơ sở để chấp nhận, bởi lẽ, bị đơn xác nhận đã được bàn giao xe, hai bên có lập biên bản nghiệm thu, bàn giao tài sản ngày 20/2/2004 cho đến ngày thu hồi tài sản thuê, vì vậy, căn cứ vào điều 26 của Nghị định 16/2001 ngày 02/5/2001 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính bị đơn phải trả tiền thuê theo thỏa thuận trong hợp đồng . Đồng thời, căn cứ theo điểm c khoản 2 điều 63 Luật các tổ chức tín dụng, khỏan điều 486 Bộ Luật dân sự quy định bị đơn còn phải trả số tiền lãi phát sinh trong hạn và quá hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng vì bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê.

Xét, yêu cầu của bị đơn cho rằng phía nguyên đơn bàn giao xe trong tình trạng hư hỏng, phải tu sửa hết 74.300.000 đồng nhưng vẫn không sử dụng được nên đề nghị công nhận giá trị xe khi bàn giao là 285.000.000 đồng, yêu cầu này không được nguyên đơn đồng ý, đồng thời, cũng không có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ căn cứ vào biên bản bàn giao tài sản thuê ngày 20/2/2004 bị đơn đã chấp nhận chất lượng và giá trị tài sản thuê, mặt khác, cũng không có chứng cứ chứng minh có việc thỏa thuận lại giá trị xe ban đầu là 285.000.000 đồng, do đó, căn cứ vào khoản 5 điều 26 Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 quy định bên thuê phải chịu rủi ro về việc mất mát, hư hỏng đối với tài sản thuê trong quá trình sử dụng tài sản thuê, vì vậy nghĩ nên bác yêu cầu trên của bị đơn.

Xét, bị đơn không chấp nhận giá trị tài sản thuê bán đấu giá là 116.500.000 đồng vì cho rằng giá thị trường thời điểm này là 225.000.000 đồng, ý kiến này không thể chấp nhận được, bởi lẽ, nguyên đơn đã thực hiện đúng trình tự thông báo cho bị đơn về việc tham gia đấu giá tài sản thuê, tuy nhiên, do phía bị đơn từ chối không tham gia, điều này được chứng minh qua việc xác nhận của bị đơn tại bản tường trình ngày 6/1/2007 và tại phiên Tòa hôm nay, vì vậy, nghĩ nên bác yêu cầu trên của bị đơn.

Xét, bị đơn còn cho rằng tài sản thuê tay ba gồm nguyên đơn, bị đơn và Công ty TNHH Đại Thành Tín, khi bàn giao không có lập biên bản chi tiết để đánh giá lại tài sản thuê, giá trị còn lại như thế nào ? nên đề nghị đưa Công ty TNHH Đại Thành Tín vào cùng giải quyết, yêu cầu này không được chấp nhận, bởi lẽ như đã phân tích trên đây khi bàn giao tài sản thuê phía bị đơn đã đồng ý với chất lượng tài sản thuê và đồng ý với giá trị xe còn lại là 387.284.730 đồng, đồng thời, việc bàn giao xe đã thể hiện bên giao là nguyên đơn và bên nhận là bị đơn chứ không phải Công ty TNHH Đại Thành Tín là bên giao xe, mặt khác, tại điều 2 của hợp đồng cho thuê tài chính thể hiện nguyên đơn thu hồi xe từ Công ty TNHH Đại Thành Tín để bàn giao cho bị đơn và bị đơn sau khi kiểm tra, chấp thuận và nhận bàn giao tài sản từ bên thuê trước, bị đơn chịu trách nhiệm hoàn toàn về chất lượng, kỹ thuật thiết bị do mình lựa chọn và xin tiếp nhận. Do đó, việc ký kết và thực hiện hợp đồng không liên quan đến quyền và nghĩa vụ đến Công ty TNHH Đại Thành Tín nên không cần thiết phải đưa Công ty này vào tham gia tố tụng.

Xét, về thời gian thi hành phía nguyên đơn yêu cầu thu hồi trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật là phù hợp quy định của pháp luật vì vậy nghĩ nên chấp nhận.

Xét, về lãi phát sinh từ sau ngày tuyên án cho đến khi thu hồi nợ xong nguyên đơn đồng ý không yêu cầu đòi số nợ lãi này nhằm tạo điều kiện cho bị đơn có điều kiện trả nợ, vì vậy nghĩ nên ghi nhận.

Về án phí : bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch trên phần phải thanh toán cho nguyên đơn, nguyên đơn không phải chịu án phí . Do không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn nên bị đơn còn phải chịu thêm phần án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch trên phần bị bác yêu cầu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điều 29, 34, 35, khoản 1 Điều 131 và 210 Bộ Luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2005; điểm c khoản 2 điều 63 Luật các tổ chức tín dụng; Khỏan 2 điều 15, khoản 1 điều 19 Nghị định 70/CP của Chính phủ quy định về án phí, lệ phí của Tòa án ngày 12 tháng 06 năm 1997; tuyên xử :

1- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn :

- Buộc Công ty TNHH Xây dựng-kinh doanh nhà Long Trường phải thanh toán cho Công ty cho thuê tài chính II số tiền phát sinh từ các hợp đồng cho thuê tài chính số 192B/2004/HĐCTTC ngày 20/2/2004 là 438.216.570 ( bốn trăm ba mươi tám triệu hai trăm mười sáu ngàn năm trăm bảy mươi ) đồng, trong đó tiền gốc là 265.984.178 đồng và tiền lãi là172.232.392 đồng.

- Thi hành trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan Thi hành án Dân sự TP.Hồ chí Minh

- Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không yêu cầu phần nợ lãi sẽ được tiếp tục tính trên số nợ gốc thực nợ kể từ ngày 29/08/2007 cho đến khi thực trả hết nợ gốc .

2- Bác yêu cầu của Công ty TNHH Xây dựng-kinh doanh nhà Long Trường về việc đòi Công ty cho thuê tài chính II công nhận giá trị tài sản thuê ban đầu là 285.000.000 đồng và giá trị tài sản thuê khi đấu giá là 225.000.000 đồng.

3-Về án phí kinh tế sơ thẩm : Công ty TNHH Xây dựng –kinh doanh nhà Long Trường phải chịu là 26.964.500 đồng nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự TP.HCM, được khấu trừ vào số tiền án phí tạm nộp theo BL số 002671 ngày 31/7/2007 là 5.775.000 đồng, còn phải nộp là 21.189.500 đồng tại cơ quan Thi hành án dân sự TP.Hồ chí Minh. Công ty cho thuê tài chính II không phải chịu án phí kinh tế sơ thẩm, được nhận lại số tiền tạm nộp là 6.948.813 đồng theo BL số 003281 ngày 24/10/2006 của Thi hành án dân sự TP.HCM .

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


228
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 1548/2007/KDTM-ST ngày 28/08/2007 về tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính

Số hiệu:1548/2007/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:28/08/2007
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
          Bản án/Quyết định phúc thẩm
            Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về