Bản án 154/2021/HNGĐ-ST ngày 29/04/2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 154/2021/HNGĐ-ST NGÀY 29/04/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 29 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 655/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp “ly hôn, về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2021/QĐXX-ST ngày 25 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lê Minh H, sinh năm 1994; địa chỉ: số 94, tổ 3, ấp B, xã N, huyện C, tỉnh An Giang (Có mặt).

2. Bị đơn: Chị Phan Thị Ngọc P, sinh năm 1996; địa chỉ: số 94, tổ 3, ấp B, xã N, huyện c, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: ấp T, xã N, huyện c, tỉnh An Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn anh Lê Minh H trình bày: Anh và chị Phan Thị Ngọc P do mai mối, tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, vợ không quan tâm gia đình nên mâu thuẫn ngày càng nhiều và không còn chung sống đến nay. Từ khi không còn chung sống, hai bên không hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay, nhận thấy tình cảm không còn, anh yêu cầu ly hôn với chị Phan Thị Ngọc P. Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Lê Minh T, sinh ngày 21/9/2015 (hiện do chị P chăm sóc, nuôi dưỡng). Khi ly hôn, anh đồng ý để vợ được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, anh không cấp dưỡng nuôi con chung, về quan hệ tài sản chung: Không có. về quan hệ nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, anh H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn chị Phan Thị Ngọc P được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng chị P vẫn váng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không hòa giải được.

Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, về ý kiến giải quyết: Anh Lê Minh H và chị Phan Thị Ngọc P do mai mối và kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận, bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do chị P không quan tâm gia đình, thường xuyên cự cãi và ly thân đến nay. Nay, anh H yêu cầu ly hôn với chị p. Xét thấy, chị P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản đối với đối với yêu cầu khởi kiện của anh H. Mặt khác, anh H xác định không còn tình cảm với chị P và kiên quyết ly hôn nên mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H đối với chị P. Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Minh T, sinh ngày 21/9/2015, đang sống với chị P, đồng ý để chị P tiếp tục nuôi con, không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu T đang sống chung với chị P vẫn phát triển bình thường về thể chất, tinh thần nên cần ổn định cuộc sống cho cháu, tiếp tục giao cháu T cho chị p tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Do chị P không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập đến. về tài sản chung, nợ chung: không có, nên không đề cập giải quyết.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị:

- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Lê Minh H đối chị Phan Thị Ngọc P.

- Chị Phan Thị Ngọc P được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Lê Minh T, sinh ngày 21/9/2015, anh Lê Minh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Anh Lê Minh H yêu cầu ly hôn với chị Phan Thị Ngọc P, chị p có nơi cư trú ấp T, xã N, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Bị đơn chị Phan Thị Ngọc p được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị P là có căn cứ.

[3] Anh Lê Minh H yêu cầu ly hôn với chị Phan Thị Ngọc P. Anh H và chị P có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo anh H trình bày, trong quá trình chung sống vợ chồng thường hay phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, vợ không quan tâm gia đình, đến cuối năm 2016, thì mâu thuẫn trầm trọng và không còn chung sống đến nay. Nhận thấy, tình cảm không còn, anh yêu cầu ly hôn với chị Phan Thị Ngọc P. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc anh H yêu cầu ly hôn và triệu tập chị p tham gia các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa, nhưng chị P vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của anh H. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa anh H và chị p đã diễn ra trong thời gian dài, nguyên nhân do bất đồng quan điểm nên thường cãi nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày mâu thuẫn nhiều hơn và không còn chung sống từ cuối năm 2016 đến nay. Trong thời gian này, hai bên cũng không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu chung sống với nhau cũng không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H là phù hợp theo quy định pháp luật.

[4] Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống, anh H xác định vợ chồng có 01 con chung tên Lê Minh T, sinh ngày 21/9/2015 (hiện do chị p chăm sóc, nuôi dưỡng). Khi ly hôn, anh đồng ý để vợ được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau, cháu T do chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên tâm tư tình cảm của cháu gắn liền với người nuôi dưỡng và trong quá trình giải quyết chị P cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu này của anh H. Do đó, để chị p tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T là phù hợp với pháp luật.

[5] Đối với cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị P không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[6] Về quan hệ tài sản chung: Anh H trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[7] Về quan hệ nợ chung: Anh H trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[8] Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: - Các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Các Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Minh H đối với chị Phan Thị Ngọc P.

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Minh H được ly hôn với chị Phan Thị Ngọc P.

Giấy chứng nhận kết hôn số 271, quyển số 02, ngày 02 tháng 12 năm 2014 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho anh Lê Minh H và chị Phan Thị Ngọc p không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung: Chị Phan Thị Ngọc P được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Lê Minh T, sinh ngày 21/9/2015 (hiện do chị P chăm sóc, nuôi dưỡng). Anh Lê Minh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Phan Thị Ngọc P cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Lê Minh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vi lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về quan hệ tài sản chung: Không có.

- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc anh Lê Minh H xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì anh Lê Minh H và chị Phan Thị Ngọc p phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, anh Lê Minh H phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0008886 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 06/10/2020. Anh H đã nộp đủ án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

43
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 154/2021/HNGĐ-ST ngày 29/04/2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:154/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/04/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về