Bản án 154/2021/HNGĐ-ST ngày 01/02/2021 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 154/2021/HNGĐ-ST NGÀY 01/02/2021 VỀ LY HÔN

Ngày 01 tháng 02 năm 2021 tại phòng xử án - Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 537/2020/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2020, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 550/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/12/2020 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2021/QĐST-HNGĐ ngày 06/01/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh M, sinh năm 1991(có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: Số 57/14 B, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Trần Thành N, sinh năm 1991 (vắng mặt) Cùng địa chỉ: Số 57/14 B, Phường X, quận , Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY

Trong Đơn khởi kiện ngày 24/4/2020 và các Bản tự khai, biên bản hòa giải và trong suốt quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Trần Thị Thanh M trình bày:

Bà và ông Trần Thành N tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 18/2016, ngày 05/4/2016. Do tính cách không phù hợp, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, từ năm 2019 đến nay bà và ông N đ ly thân, tình cảm không còn, không thể hàn gắn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông N.

Về con chung: Quá trình chung sống bà và ông N có 01 con chung tên Trần Phúc Thành D, sinh ngày 29/11/2016, Bà yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà M cam kết không còn tài liệu, chứng cứ nào để cung cấp cho Tòa án và cam kết chỉ nộp đơn ly hôn tại Tòa án N dân quận Bình Thạnh, không nộp đơn ly hôn tại Tòa án nào khác việc ly hôn không nhằm trốn tránh nghĩa vụ khác.

Bị đơn là ông Trần Thành N vắng mặt không có lý do.

Tại bản tự khai ngày 01/07/2020, bị đơn là ông Trần Thành N trình bày:

Ông tự nguyện kết hôn với bà Trần Thị Thanh M, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường X, quận Y, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 18/2016 ngày 05/04/2016. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc đến năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Qúa trình chung sống, ông và bà M có một con chung tên Trần Phúc Thành D, sinh ngày 29/11/2016. Ông mong muốn hòa giải với bà Trần Thị Thanh M vì vẫn còn yêu thương vợ, con.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn là ông Trần Thành N đ được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ phiên tòa xét xử lần thứ nhất vào ngày 06/01/2021 và xét xử lần 2 vào ngày 01/02/2021 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện viện kiểm sát N dân quận Bình Thạnh phát biểu: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ giữa bà Trần Thị Thanh M và ông Trần Thành N là quan hệ hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông N cư trú tại quận Bình Thạnh nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án N dân quận Bình Thạnh.

[2] Về sự có mặt của các đương sự:

Nguyên đơn là bà Trần Thị Thanh M có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là ông Trần Thành N đ được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ vào Khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

- Về yêu cầu của các đương sự:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 18/2016 do Ủy ban nhân dân Phường X, quận , Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/04/2016 thể hiện hôn nhân giữa bà Trần Thị Thanh M và ông Trần Thành N là hợp pháp.

Bà M yêu cầu được ly hôn với ông N xuất phát từ cuộc sống chung giữa hai vợ chồng không hạnh phúc, nguyên N là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, cuộc sống gia đình, mâu thuẫn này xảy ra liên tục và diễn ra trong thời gian dài, mặc dù cả 02 vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng vẫn không thể đoàn tụ và đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân là việc nam nữ tự nguyện thương yêu và xây dựng hạnh phúc gia đình, mà ở đó cả hai cùng chung tay vun đắp cho hạnh phúc chung, tin tưởng và cùng nhau vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Tuy nhiên, quá trình chung sống giữa bà M và ông N trong thời gian đầu hạnh phúc, sau đó xảy ra mâu thuẫn, nguyên N chính là do giữa hai người bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, cuộc sống vợ chồng nên dẫn đến thường xuyên cải v sống không hạnh phúc và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài không thể hàn gắn lại được.

Tòa án đ tiến hành xác minh đối với Ủy ban nhân dân Phường X, quận Y để tham khảo nhưng kết quả không thể hiện việc mâu thuẫn của vợ chồng bà M, ông N. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã động viên, phân tích để vợ chồng bà M, ông N hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình nhưng bà M cương quyết giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông N để ổn định cuộc sống. Mặt khác, ông N có văn bản phản đối yêu cầu của bà M, nhưng không đưa ra giải pháp nào để cải thiện mối quan hệ vợ chồng, không đến Tòa tham gia tố tụng, chứng tỏ ông không có thiện chí hòa giải để đoàn tụ gia đình.

Xét thấy hạnh phúc giữa hai người không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy bà M có nguyện vọng xin được ly hôn với ông N là có cơ sở nên được chấp nhận.

[4] Về con chung: Căn cứ vào Bản sao Giấy khai sinh số 282/2016 do Ủy ban nhân dân Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/12/2016 đ có đủ cơ sở xác định giữa bà M và ông N có một con chung tên là Trần Phúc Thành D, sinh ngày 29/11/2016.

Bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo lời khai của bà M hiện nay, bà M đang trực tiếp nuôi dưỡng trẻ D, cháu bé phát triển bình thường. Do đó, yêu cầu được trực tiếp nuôi con của bà M là chính đáng, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn Nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận.

[5] Bị đơn là ông Trần Thành N đ được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông N vắng mặt không có lý do, ông N đã tự từ bỏ quyền trình bày, cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông tại Tòa án nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.

[6] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, bà M phải đóng.

Vì các lẽ nêu trên 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 21, Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, Khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là bà Trần Thị Thanh M:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh M được ly hôn với ông Trần Thành N (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 18/2016 do Ủy ban nhân dân Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/04/2016).

- Về việc nuôi con chung: Giao cho bà Trần Thị Thanh M trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Phúc Thành D, sinh ngày 29/11/2016. Ông Trần Thành N không cấp dưỡng nuôi con.

Ông N có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung chưa thành niên. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết bà M hoặc ông N được quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức tiền cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Trần Thi Thanh M phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà bà M đ nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0017982 ngày 08/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh. Bà M đ nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

3. Quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

65
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 154/2021/HNGĐ-ST ngày 01/02/2021 về ly hôn

Số hiệu:154/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:01/02/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về