Bản án 154/2020/HS-ST ngày 03/11/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 154/2020/HS-ST NGÀY 03/11/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 03 tháng 11 năm 2020, tại Hội trường xét xử - Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2020/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 351/2020/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Vũ Văn T, sinh ngày 24/5/1979 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện V, thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; ; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; con ông Vũ Văn T (đã chết) và bà Dương Thị H; gia đình có 04 anh em, T là con thứ ba; có vợ là Dương Thị S và có 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: có 02 tiền án đã xóa; Án số 34/2010/HSST ngày 25/5/2010, Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm ngày 24/11/2010 và nộp 400.000 đồng tiền phạt sung công quỹ nhà nước ngày 07/01/2015. Ngày 17/9/2015, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng ra Quyết định số 16/2015/QĐST-VDS miễn cho T số tiền phạt còn phải thi hành án là 4.600.000 đồng (được xóa án); Án số 162/2016/HSST ngày 22/9/2016, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ra tù ngày 13/9/2017; đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm ngày 10/01/2017 (được xóa án); bị tạm giữ ngày 30/6/2020, tạm giam ngày 02/7/2020; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 29/6/2020, T đi bộ vào khu vực nhà vệ sinh chợ Cột Đèn, phường Dư Hàng, quận Lê Chân, T phố Hải Phòng gặp 01 nam giới (chưa xác định được lai lịch) đang sử dụng Heroine. Nam giới trên hỏi T có mua Heroine không thì anh ta có chỗ mua rẻ sẽ lấy cho. T đồng ý và nói chỉ có 100.000 đồng mua về cả hai cùng sử dụng. Nam giới trên đồng ý và cùng T đi xe ôm đến khu vực trước cửa siêu thị Điện Máy Xanh; địa chỉ: Số 277 Trần Nguyên Hãn, phường Nghĩa Xá, quận Lê Chân, T phố Hải Phòng thì xuống xe, T trả tiền xe ôm và lấy 100.000 đồng đưa cho nam giới trên. Nam giới bảo T đứng đợi và đi đâu T không biết, khoảng 05 phút sau anh ta quay lại đưa cho T 01 gói giấy bạc, T biết là gói Heroine và cầm trên tay trái, người nam giới bảo T đứng chờ còn anh ta đi mua xi lanh để sử dụng Heroine.

Khoảng 19 giờ cùng ngày, khi T đang đứng đợi, Công an phường Nghĩa Xá, quận Lê Chân tuần tra trên tuyến đường Trần Nguyên Hãn phát hiện tại khu vực trước cửa siêu thị Điện Máy Xanh, đối tượng Vũ Văn T có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy nên tiến hành kiểm tra. Khi kiểm tra T đã thả từ trên tay trái xuống đất 01 gói giấy bạc cách mũi chân trái của T đang đứng khoảng 20cm. Lực lượng Công an kiểm tra thu giữ gói giấy bạc mở ra thấy bên trong có chứa chất bột màu trắng, nghi là Heroine và đưa T cùng vật chứng về trụ sở công an phường lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Tại Bản Kết luận giám định số 415/KLGĐ-MT ngày 02/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an T phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của T gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,15 gam là loại Heroine.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra, Vũ Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.

Tại Bản Cáo trạng số 156/CT-VKS ngày 01/10/2020, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, T phố Hải Phòng truy tố bị can Vũ Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Qua xem xét đánh giá chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra, cùng lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người làm chứng. Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ nguyên quan điểm truy tố bị can Vũ Văn T theo tội danh cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Văn T với mức hình phạt từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

Xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình của bị cáo, đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với phong bì có số niêm phong số 415/2020/PC09 đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo Vũ Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

 Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án, bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận Lê Chân, T phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, T phố Hải Phòng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.

- Về tội danh:

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Văn T như đã nêu ở trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; vi phạm Điều 3 Luật phòng, chống ma túy; lời khai về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng với tang vật chứng đã được thu giữ trong vụ án. Căn cứ vào các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Bản kết luận giám định số 415/KLGĐ-MT ngày 02/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an T phố Hải Phòng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Vũ Văn Thành, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Lê Chân gửi giám định là ma túy có khối lượng là 0,15 gam là loại Heroine nằm trong danh mục quy định tại Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Từ những phân tích trên và quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

[3] Xét bị cáo chưa có tiền sự, có 02 tiền án đều đã được xóa theo quy định pháp luật; bị cáo không có tình tiết tăng nặng, tại Cơ quan điều tra bị cáo T khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo T có công với cách mạng, đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử xét cần cho bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ như đã nêu là hoàn toàn có căn cứ, nên chấp nhận.

- Về hình phạt áp dụng:

[4] Xét tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét bị cáo không có việc làm, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, trên cơ sở quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, nên Hội đồng xét xử cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[6] Cơ quan công an thu giữ của bị cáo T 01 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng được kết luận giám định là Heroine có khối lượng 0,15 gam xác định là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật dùng chứa chất ma túy, cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Đối với người nam giới mua ma túy cho Vũ Văn Thành, tài liệu điều tra của Cơ quan CSĐT - Công an quận Lê Chân hiện không xác định được căn cước, lai lịch, nên không có căn cứ xử lý.

[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,  1. Về tội danh và hình phạt:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30/6/2020.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có số niêm phong 415/2020/PC09 trong chứa chất ma túy Heroine đã giám định thu giữ của bị cáo, theo biên bản giao nhận vật chứng đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, T phố Hải Phòng ngày 01/10/2020.

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vũ Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

 4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án đựơc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi T án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành dân sự đựơc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


13
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về