Bản án 154/2017/HSST ngày 14/11/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - TP. HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 154/2017/HSST NGÀY 14/11/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 14 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 địa chỉ: 27 đường Thành Thái, Phường 14, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 130/2017/HSST ngày 20 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Đào Văn T - Giới tính: Nam; sinh năm: 1973 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: đường T, Phường A, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 1/12; con ông: Đào Văn T1 (chết); và bà: Nguyễn Thị D; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt giữ ngày: 17/7/2017. (Bị cáo có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Thúy Hoàng V – Sinh năm: 1979 (vắng mặt). Trú tại: đường C, Phường B, quận V, TP.HCM.

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào lúc 12 giờ 15 ngày 17/7/2017, tại trước nhà số 346 đường Nguyễn Duy Dương, Phường 9, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Tổ tuần tra Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an Quận 10 tiến hành kiểm tra hành chính đối với Đào Văn T, thu giữ từ T: 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu (theo T khai là ma túy để bán lại cho người khác) để trong túi quần phía trước bên phải, 01 chiếc xe môtô biển số 59V2-085.71, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia. Vụ việc được Công an Phường 9, Quận 10 lập hồ sơ ban đầu, sau đó chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 điều tra, làm rõ.

Tại Kết luận giám định số 1249/KLGĐ-H ngày 14/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh xác định: 01 gói niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Đào Văn T và hình dấu Công an Phường 9, Quận 10, là ma túy ở thể rắn có khối lượng 4,9943g loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra xác định như sau: T bắt đầu bán ma túy từ tháng 3/2017. Khoảng 11 giờ 00 ngày 17/7/2017, T mua ma túy của đối tượng tên H (không rõ lai lịch, địa chỉ) tại Quận 8 với giá 2.200.000 đồng để về bán lại cho người nghiện có nhu cầu. Đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, T điều khiển xe môtô đến trước nhà số 346 đường Nguyễn Duy Dương, Phường 9, Quận 10 để đi bán ma túy cho đối tượng nghiện thì bị bắt như trên. Từ khi bán ma túy đến khi bị bắt, T thu lợi bất chính 500.000 đồng và tiêu xài hết.

Đối với chiếc xe môtô biển số 59V2-085.71, qua xác minh, được biết chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thúy Hoàng V. Ngày 17/7/2017, chị V giao chiếc xe để T đi công việc, sau đó T phạm tội. Việc phạm tội của T, chị V không biết. Vì vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã trả lại chiếc xe trên cho chị Nguyễn Thúy Hoàng V.

Riêng đối tượng tên H (không xác định được lai lịch, địa chỉ), cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 tiếp tục truy xét, khi nào bắt được xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 89/CT-VKS ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Đào Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009).

Tại phiên tòa hôm nay:

Bị cáo Đào Văn T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đào Văn T đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo (thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị áp dụng khoản 1, 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) đối với bị cáo Đào Văn T; xử phạt bị cáo Đào Văn T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, đồng thời phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Đối với: 01 gói niêm phong (bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Đào Văn T và hình dấu Công an Phường 9, Quận 10); là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, tiêu hủy.

Đối với: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia (số Imel: 353678/07/632767/1 và số thuê bao: 01208708636), là phương tiện dùng vào việc phạm tội; vậy đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, sung quỹ Nhà nước.

Lời nói sau cùng của bị cáo: rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình; qua lời khai nhận tội của bị cáo, đối chiếu với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, bản kết luận giám định, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, là phù hợp với nhau, từ đó Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: bị cáo Đào Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Ma túy là mối hiểm họa cho gia đình và xã hội, nó đã lây lan và phát triển một cách nghiêm trọng, làm suy đồi và băng hoại nhân cách con người, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm hình sự khác; trong khi chính quyền nhân dân các cấp đang ra sức thực hiện mục tiêu 3 giảm: “Giảm ma túy, giảm mại dâm, giảm tội phạm”; nhưng bị cáo đã đi ngược lại mục tiêu chung trên, bị cáo đã có hành vi cất giữ trái phép: 4,9943g, loại Methamphetamine, chiếu theo danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ thì đó là chất ma túy, qua lời khai của bị cáo số ma túy nhằm để bán lại cho người nghiện ma túy để kiếm lời, nên theo quy định tại điểm b tiểu mục 3.3 mục 3 phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP ngày 24/12/2007 thì bị cáo Đào Văn T vẫn bị truy tố và xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009).

Đối với những lần mua bán ma túy trước đó mà bị cáo đã khai trong quá trình điều tra; xét thấy ngoài lời khai của bị cáo, không còn chứng cứ nào chứng minh; do vậy hiện chưa đủ cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự đối với những lần mua bán ma túy này theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo; nhưng kiến nghị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 tiếp tục truy xét, khi nào phát hiện làm rõ, củng cố chứng cứ xử lý bị cáo và các đối tượng liên quan về những lần mua bán ma túy này và xử lý số tiền thu lợi bất chính (nếu có).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; ngoài ra bị cáo có quá trình nhân thân không tốt, cụ thể: ngày 19/12/1994 bị Tòa án nhân dân Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”, ngày 13/11/1996 bị Tòa án nhân dân Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”, ngày 19/8/1999 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 16 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy, mặc dù tất cả đã được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tu dưỡng bản thân, mà tiếp tục phạm tội; do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương; ngoài ra áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009), phạt bổ sung bị cáo một số tiền để sung quỹ Nhà nước.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về vật chứng:

Đối với: 01 gói niêm phong (bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Đào Văn T và hình dấu Công an Phường 9, Quận 10); là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, tiêu hủy.

Đối với: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia (số Imel: 353678/07/632767/1 và số thuê bao: 01208708636), là phương tiện dùng vào việc phạm tội; vậy áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, sung quỹ Nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Đào Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: bị cáo Đào Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1, 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) đối với bị cáo Đào Văn T; Xử phạt bị cáo Đào Văn T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2017. Phạt bổ sung bị cáo T 5.000.000 (Năm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), cho đến khi thi hành xong các khoản tiền nêu trên, thì bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi nợ quá hạn của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong (bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Đào Văn T và hình dấu Công an Phường 9, Quận 10).

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia (số Imel: 353678/07/632767/1 và số thuê bao: 01208708636).

(Tình trạng vật chứng, tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/10/2017 giữa Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Áp dụng theo khoản 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc

- Bị cáo T chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./.


94
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về