Bản án 154/2017/HSST ngày 08/12/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 154/2017/HSST NGÀY 08/12/2017 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 08/12/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 153/2017/HSST ngày 23 tháng 10 năm 2017 đối với:

Bị cáo: Lê Tiến C, sinh năm 1993 tại tỉnh Phú Thọ. Nơi đăng ký HKTT: Khu 6, xã X, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ văn hóa: 9/12. Con ông Lê Văn T, sinh năm 1952 và bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1951; gia đình có 07 người con, bị cáo là con thứ 7. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo tại ngoại (có mặt)

Người bị hại: Ông Tạ Văn P, sinh năm 1940; địa chỉ: Phố V, phường N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. (đã tử vong)

Người đại diện theo ủy quyền của hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại: Anh Tạ Thành L, sinh năm 1979; địa chỉ: Số 764, đường Q, phố V, phường N, thành phố Ninh Bình. (có mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn H; sinh năm 1983; địa chỉ: Số 1/2, nhà Z, phường M, quận H, thành phố Hà Nội. (có mặt)

NHẬN THẤY

Bị cáo Lê Tiến C bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Lê Tiến C có Giấy phép lái xe ô tô số 010175015587 hạng C do Sở giao thông thành phố Hà Nội cấp ngày 28/02/2017. Lê Tiến C lái xe thuê cho anh Nguyễn Văn H. Ngày 24/6/2017, anh H cử C điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Dongfeng biển kiểm soát 29C-X chở máy đục gỗ từ thành phố Hà Nội đến xã Xuân Thành, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh để giao hàng cho khách. Đi cùng xe với C là anh Nguyễn Thành L (phụ xe), sinh năm 1988, trú tại thôn S, xã G, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Sau khi giao hàng, sáng ngày 25/6/2017, C điều khiển xe ô tô đi về Hà Nội. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, C đến khu vực đường Trần Nhân Tông, phố Thiện Tiến, phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình hướng Quốc lộ 1A- Đường 10 trên làn đường dành cho xe ô tô, sát dải phân cách cứng giữa đường, tại đoạn đường này có lối mở sang đường. Cách khoảng 200 mét, C quan sát thấy ông Tạ Văn P đi xe đạp cùng chiều phía trước, sát dải phân cách giữa đường. Khi ông P cách đầu xe của C khoảng 10 mét, C điều khiển xe ô tô vượt lên song song với xe đạp của ông P, cùng lúc có một xe container (không rõ biển kiểm soát) vượt từ phía sau lên phía bên phải và đi sát xe ô tô của C. Sau đó C đánh lái sang bên trái để tránh xe container nên góc lượn ba đờ sốc bên trái phía trước xe ô tô biển kiểm soát 29C-X va chạm vào đầu tay nắm nhựa ghi đông tay phải xe đạp của ông P, làm ông P ngã xuống đường và bị bánh sau bên trái xe ô tô nghiến lên người ông P, làm ông P tử vong tại chỗ, xe đạp bị hư hỏng. Khi nghe thấy tiếng va chạm, bánh sau xe ô tô lềnh lên, C bảo anh L xuống kiểm tra. Anh L thấy ông P nằm bất tỉnh phía sau xe ô tô 01 mét, anh L nói với C: “xe chèn dính người rồi”. Do hoảng loạn nên C tiếp tục điều khiển xe đến khu vực ngã tư Big C Ninh Phúc thì dừng xe rồi đến cơ quan Công an thành phố Ninh Bình trình báo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và khám nghiệm phương tiện.

Qúa trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình thu giữ 01 xe ô tô nhãn hiệu Dongfeng biển kiểm soát: 29C-X cùng đăng ký xe, giấy chứng nhận bảo hiểm, kiểm định xe và giấy phép lái xe mang tên Lê Tiến C; 01 xe đạp mini màu sơn đỏ.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 38/KLGĐ-PC-PY ngày 06/7/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình kết luận nguyên nhân tử vong của ông ông Tạ Văn P: Chấn thương sọ não hở (vỡ sập phức tạp xương hộp sọ, rách màng cứng, tổ chức não dập nát thoát ra ngoài).

Tại Kết luận định giá tài sản số 56/KL-GĐ của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Ninh Bình ngày 05/7/2017 kết luận: Tổng giá trị tài sản là chiếc xe đạp mini màu sơn đỏ bị hư hỏng sau vụ tai nạn là 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng)

Qúa trình điều tra, Lê Tiến C đã thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm của mình

Sau khi xảy ra tai nạn, Lê Tiến C đã bồi thường theo thỏa thuận cho gia đình ông Tạ Văn P số tiền 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu) đồng. Gia đình ông P đã nhận đủ số tiền bồi thường.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại xe ôtô nhãn hiệu Dongfeng biển kiểm soát 29C-X cùng đăng ký xe và các giấy tờ xe khác cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn H; trả lại chiếc xe đạp mini màu sơn đỏ cho anh Tạ Thành L . Anh Nguyễn Văn H và anh Tạ Thành L đã nhận lại tài sản.

Đối với Giấy phép lái xe số 010175015587 hạng C mang tên Lê Tiến C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình giải quyết cùng vụ án.

Tại bản cáo trạng số 151/CT-VKS ngày 19/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố Lê Tiến C về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1, khoản 5 Điều 202 của Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Tiến C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố.

Anh Tạ Thành L trình bày gia đình anh đã nhận lại chiếc xe đạp mini màu sơn đỏ từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình, đã nhận đủ số tiền 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu) là khoản tiền bồi thường thiệt hại từ bị cáo Lê Tiến C nên không có ý kiến gì khác. Đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho Lê Tiến C được cải tạo tại địa phương.

Anh Nguyễn Văn H trình bày sau khi xảy ra tai nạn, anh H có đến thăm viếng gia đình người bị hại và sẽ hỗ trợ cho bị cáo bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại khi anh H nhận được khoản tiền thanh lý hợp đồng bảo hiểm ô tô. Anh H đã nhận lại xe ô tô nhãn hiệu Dongfeng biển kiểm soát 29C-X từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình và không có ý kiến gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Lê Tiến C về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 202; điểm b, p Khoản 1 và Khoản 2 Điều 46 và Điều 60 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Tiến C từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng, giao bị cáo Lê Tiến C cho UBND xã X, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Lê Tiến C hành nghề lái xe ô tô trong thời gian từ 01 đến 02 năm.

Áp dụng khoản 2 điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự, xử lý vật chứng: Trả Giấy phép lái xe ô tô số 010175015587 hạng C do Sở giao thông thành phố Hà Nội cấp ngày 28/02/2017 cho Lê Tiến C nhưng tạm giữ cho đến khi bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt, cải tạo tại địa phương.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án; ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, lời trình bày của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Lời khai tại phiên toà của bị cáo Lê Tiến C đúng như nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, bản kết luận giám định pháp y tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 16 giờ 30’ ngày 24/6/2017, Lê Tiến C điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Dongfeng biển kiểm soát 29C-X lưu thông trên đường Trần Nhân Tông thuộc phố Thiện Tiến, phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình. Do không quan sát kỹ tình trạng giao thông, vượt xe không đảm bảo an toàn nên xe ô tô đã va chạm với xe đạp của ông Tạ Văn P, làm ông P ngã xuống đường và bị bánh bên trái phái sau của xe ô tô nghiến lên người khiến ông tử vong tại chỗ, chiếc xe đạp của ông P bị hư hỏng.

Xét thấy bị cáo Lê Tiến C điều khiển xe ôtô tham gia giao thông không tuân thủ Luật Giao thông đường bộ, vô ý phạm lỗi vượt ẩu nên đã gây ra tai nạn là vi phạm khoản 11 Điều 8 và Điều 14 Luật Giao thông đường bộ. Hậu quả ông P tử vong, xe đạp của ông P bị hư hỏng.

Hành vi của bị cáo Lê Tiến C đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Đối chiếu với quy định của Bộ luật Hình sự, hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát trình bày tại phiên toà là có căn cứ và đúng pháp luật.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, tính mạng, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.

Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm hại đến khách thể được luật hình sự bảo vệ mà còn gây hoang mang, lo lắng cho người tham gia giao thông, gây tổn thất về vật chất và tinh thần cho gia đình người bị hại. Để hạn chế thấp nhất các vụ tai nạn giao thông, có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung thì việc truy tố, đưa ra xét xử, buộc bị cáo phải chịu trách nhịêm hình sự là cần thiết.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo Lê Tiến C một mức hình phạt thoả đáng, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 05/7/2017, Lê Tiến C đã bồi thường theo thỏa thuận cho gia đình ông Tạ Văn P số tiền 130.000.000 đồng gồm tiền mai táng, tiền bồi thường tổn thất tinh thần thiệt hại về tài sản. Việc bồi thường thiệt hại là do các bên tự nguyện thỏa thuận và đã được thực hiện xong, đến nay không bên nào có yêu cầu gì khác nên ghi nhận sự thỏa thuận nêu trên của các bên.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi gây ra tai nạn, bị cáo đã đến cơ quan công an trình báo, đã chủ động khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, hối hận với hành vi và hậu quả mà mình đã gây ra. Bị cáo có nhân thân tốt, đồng thời anh Tạ Thành L đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho Lê Tiến C được cải tạo tại địa phương. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, với một thời gian thử thách, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999, cấm bị cáo hành nghề lái xe ôtô trong một thời gian nhất định.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại xe ôtô nhãn hiệu Dongfeng biển kiểm soát 29C-X cùng đăng ký xe và giấy tờ xe cho anh Nguyễn Văn H, trả lại chiếc xe đạp mini màu sơn đỏ cho anh Tạ Thành L là có căn cứ; đến nay không bên nào có yêu cầu gì khác, nên không đưa ra xem xét giải quyết.

Áp dụng khoản 2 điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự, trả lại cho bị cáo Lê Tiến C Giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở giao thông thành phố Hà Nội cấp ngày 28/02/2017 mang tên Lê Tiến C, nhưng tạm giữ cho đến khi bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Tiến C phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng khoản 11 Điều 8 và Điều 14 Luật Giao thông đường bộ; khoản 1 điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Xử phạt: Bị cáo Lê Tiến C  12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Tiến C cho UBND xã X, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999, cấm bị cáo Lê Tiến C hành nghề lái xe ôtô trong thời hạn 01 (một) năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự trả lại cho bị cáo Lê Tiến C Giấy phép lái xe số 010175015587 hạng C do Sở giao thông vận tải thành phố Hà Nội cấp ngày 28/02/2017 mang tên Lê Tiến C, nhưng tạm giữ cho đến khi bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung.

(Vật chứng có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/11/2017 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

4. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Lê Tiến C với gia đình ông Tạ Văn P về việc bồi thường thiệt hại như sau:

Bị cáo Lê Tiến C bồi thường thiệt hại tiền mai táng, tiền tổn thất tinh thần, thiệt hại về tài sản cho gia đình ông Tạ Văn P tổng số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng), việc bồi thường thiệt hại đã được thực hiện xong.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Lê Tiến C phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo Lê Tiến C, anh Tạ Thành L, anh Nguyễn Văn H biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án (08/12/2017).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


75
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 154/2017/HSST ngày 08/12/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

Số hiệu:154/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Ninh Bình - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 08/12/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về