Bản án 154/2017/DS-ST ngày 22/12/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 154/2017/DS-ST NGÀY 22/12/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 22 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 372/2017/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 855/2017QĐXX-ST ngày 15/11/2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên V.

Địa chỉ: Tòa nhà Capital Tower, số 109, Trần Hưng Đ, Phường Cửa N, Quận Hoàn K, Thành phố H.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Doãn Sơn, là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên V).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trương Đức Th – Thành viên tổ giám sát kinh doanh và xử lý nợ – Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên V (Văn bản ủy quyền ngày 27/10/2017), (có mặt).

2. Bị đơn: Chị Lê Thị Vân A, sinh năm: 1981, (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 16-18, Phan Ngọc Hiển, khóm 3, phường 6, Tp.C, tỉnh Y.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 18/9/2017 và tại phiên toà hôm nay, đại diện nguyên đơn trình bày: Ngày 30/9/2016, chị Lê Thị Vân A có ký hợp đồng tín dụng số 210116TC-CM/HĐTD-LienVietPostBank để vay số tiền gốc 50.000.000đ, lãi suất trong hạn 9,8%/năm, lãi điều chỉnh trong từng thời kỳ; lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 36 tháng, mục đích vay để tiêu dùng; hình thức vay tín chấp. Quá trình thực hiện hợp đồng, chị Vân A có trả được 25.234.719đ nợ gốc, 2.090.426đ nợ lãi thì ngưng đến nay. Sau nhiều lần Ngân hàng yêu cầu chị Vân A trả nợ nhưng chị vẫn trì hoãn, né tránh nghĩa vụ trả nợ. sau:

Từ nội dung trên, Ngân hàng yêu cầu chị Vân A thanh toán các khoản như

 Tiền vốn: 24.765.281đ;

 Tiền lãi: 1.988.006đ;

Tổng các khoản là: 26.753.287đ.

Đối với chị Lê Thị Vân A, mặc dù đã được Tòa án niêm yết công khai thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, phiên họp hoà giải và xét xử nhiều lần nhưng chị Vân A vẫn không có ý kiến phản hồi, đồng thời cũng không có mặt tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên V (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) khởi kiện và yêu cầu chị Lê Thị Vân A thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng. Do đó, đại diện của Ngân hàng tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn; chị Vân A tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn trong vụ án là đ ng quy định tại Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về loại việc tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án đ ng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về thời hiệu khởi kiện: Các bên đương sự phát sinh giao dịch từ ngày 30/9/2016 đến ngày 18/9/2017 nguyên đơn khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm nên thời hiệu khởi kiện vẫn đảm bảo theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự 2015. Về việc vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn có mặt; đối với bị đơn Lê Thị Vân A, mặc dù đã được Tòa án niêm yết công khai các văn bản tố tụng đ ng theo quy định của pháp luật nhưng chị Vân A vẫn không có ý kiến phản hồi, đồng thời cũng không có mặt tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Vân A theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự được xác định là hợp đồng tín dụng, có quy định thời hạn và có lãi suất. Hợp đồng tín dụng này được thiết lập trên tinh thần tự nguyện thỏa thuận của hai bên và phù hợp pháp luật, đồng thời trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, cụ thể là thực hiện không đ ng nghĩa vụ nên được chấp nhận làm cơ sở thanh lý hợp đồng.

[3] Căn cứ hợp đồng tín dụng ngày 30/9/2016 kiêm khế ước nhận nợ được thiết lập giữa Ngân hàng và chị Vân A thể hiện chị Lê Thị Vân A có vay nợ tại Ngân hàng số nợ gốc là 50.000.000đ và lãi suất thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng đã giao kết. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng xác định rằng chị Vân A có thanh toán cho Ngân hàng một phần vốn gốc và lãi nhưng không đầy đủ thì ngưng thanh toán cho đến nay. Vì vậy, có cơ sở xác định hiện tại chị Lê Thị Vân A còn nợ Ngân hàng khoản nợ gốc là 24.765.281đ, nợ lãi là 1.988.006đ và lãi phát sinh chưa thanh toán nên cần buộc chị Vân A phải có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi nêu trên cho Ngân hàng là hoàn toàn phù hợp.

[4] Do phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng nên chị Vân A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Ngân hàng không phải chịu án phí, đã nộp tạm ứng án phí sẽ được hoàn lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các Điều 471, Điều 474, Điều 476 của Bộ luật dân sự 2005;

- Áp dụng khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng; khoản 1 Điều 1 của Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước;

- Căn cứ Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – buộc bị đơn Lê Thị Vân A có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên V tổng các khoản là: 26.753.287đ (Hai muơi sáu triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn hai trăm tám mươi bảy đồng). Trong đó, nợ gốc: 24.765.281đ, nợ lãi 1.988.006đ và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được ghi trong hợp đồng tín dụng đã giao kết đến khi thi hành xong.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc chị Lê Thị Vân A phải chịu 1.337.000đ (chưa nộp). Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên V không phải chịu án phí, ngày 09/10/2017 Ngân hàng đã nộp tạm ứng án phí số tiền 648.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau theo biên lai số 3779 được hoàn lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; chị Lê Thị Vân A được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


45
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về