Bản án 152/2017/DS-PT ngày 28/09/2017 về tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm 

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 152/2017/DS-PT NGÀY 28/09/2017 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SỨC KHỎE BỊ XÂM PHẠM

Trong ngày 28 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 117/2017/TLPT-DS ngày 07 tháng 7 năm 2017 về việc "Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm".

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 75/2017/DSST ngày 10 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 181/2017/QĐPT-DS ngày 04 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm: 1978 (có mặt) Bà Trần Thị B, sinh năm: 1948 (có mặt)

Cùng địa chỉ: ấp E, xã G, huyện H, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Bà Mai Thị C, sinh năm: 1937 (vắng mặt)

Bà Võ Thị Thu D, sinh năm: 1957 (vắng mặt) Cùng địa chỉ: ấp E, xã G, huyện H, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Nguyễn Thị A và bà Trần Thị B trình bày: do mâu thuẫn trong việc tranh chấp đất đai nên vào ngày 01/6/2016, bà Võ Thị Thu D và bà Mai Thị C đánh bà Nguyễn Thị A với bà Trần Thị B gây thương tích phải điều trị tại bệnh viện nên bà Nguyễn Thị A và bà Trần Thị B khởi kiện yêu cầu:

Bà Trần Thị B yêu cầu bà Võ Thị Thu D bồi thường cho bà chi phí điều trị thương tích với số tiền là 5.200.000 đồng; tiền ngày công lao động với số tiền là 1.800.000 đồng. Tổng cộng, yêu cầu bồi thường với số tiền là 7.000.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị A yêu cầu bà Mai Thị C bồi thường chi phí điều trị thương tích với số tiền 1.200.000 đồng; tiền ngày công lao động với số tiền là 1.800.000 đồng. Tổng cộng, yêu cầu bồi thường với số tiền là 3.000.000 đồng.

Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 24/02/2017, bà Trần Thị B và bà Nguyễn Thị A yêu cầu bà Mai Thị C và bà Võ Thị Thu D bồi thường thêm khoản tiền tổn thất tinh thần cho bà Trần Thị B với bà Nguyễn Thị A mỗi người với số tiền là 52.500.000 đồng.

Bị đơn bà Võ Thị Thu D trình bày: do có mâu thuẫn về tranh chấp quyền sử dụng đất từ trước nên vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 01/6/2016 bà ra ruộng để chuẩn bị sạ lúa và có mang theo 01 con dao yếm để phòng thân. Khi ra đến ruộng thì bà thấy bà Trần Thị B với bà Nguyễn Thị A đang ngoài ruộng, khi bà chuẩn bị sạ lúa thì bà A cầm cây đánh bà gây thương tích, sau đó bà A giật cây dao của bà chém bà Mai Thị C gây thương tích nên bà C cầm mác (dao) quơ không biết có trúng ai hay không. Nay bà không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bà Trần Thị B và bà Nguyễn Thị A vì bà không có gây thương tích cho bà B với bà A.

Bị đơn bà Mai Thị C trình bày: vào tháng 6/2016 thì con của bà là Võ Thị Thu D ra ruộng chuẩn bị sạ lúa, sau đó bà nghe thấy có tiếng la hét và ra xem thì thấy bà D bị bà Trần Thị B với bà Nguyễn Thị A hành hung nên bà chạy ra cầm cây mác (dao) quơ để cứu bà D nhưng không biết có trúng ai hay không, trong lúc xô xác thì bà cũng bị thương và đi điều trị nên bà không đồng ý bồi thường theo yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị B với bà Nguyễn Thị A vì bản thân của bà cũng bị bà B với bà A gây thương tích. Bà có yêu cầu xin xét xử vắng mặt tại cấp sơ thẩm.

Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên đưa ra xét xử, tại bản án sơ thẩm số: 75/2017/DSST ngày 10/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên như sau:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị B đối với bà Võ Thị Thu D. Buộc bà Võ Thị Thu D có trách nhiệm bồi thường cho bà Trần Thị B với số tiền là 5.435.000 đồng (năm triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị A đối với bà Mai Thị C. Buộc bà Mai Thị C có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị A với số tiền là 3.493.000 đồng (ba triệu bốn trăm chín mươi ba nghìn đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 19/5/2017 nguyên đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử lại. Ngày 24/5/2017 các bị đơn kháng cáo kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử lại.

Tại phiên toà phúc thẩm, phía bị đơn đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vẫn vắng mặt. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu và các ý kiến như đã trình bày.

Đại diện Viện Kiểm sát trình bày quan điểm về giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo đúng thời hạn nên hợp lệ về mặt hình thức. Hội đồng xét xử và các đương sự chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự thể hiện giữa các bên có xảy ra đánh nhau và có thương tích. Bà Trần Thị B và bà Nguyễn Thị A phải điều trị tại bệnh viện có cung cấp các chứng từ có liên quan, vì vậy chấp nhận khoản tiền điều trị thương tích và tiền xe đi lại của bà Trần Thị B với số tiền 3.025.000 đồng, bà Nguyễn Thị A với số tiền là 1.083.000 đồng. Do thương tích không lớn nên cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho bà B, bà A mỗi người với số tiền là 1.210.000 đồng là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử y án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe các bên phát biểu tranh luận.

Sau khi nghe ý kiến phát biểu và đề xuất hướng giải quyết vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về quan hệ pháp luật: theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị A yêu cầu bị đơn bà Mai Thị C phải bồi thường tổn thất về sức khỏe, tinh thần cho bà A với số tiền là 55.500.000 đồng, nguyên đơn bà Trần Thị B yêu cầu bị đơn bà Võ Thị Thu D phải bồi thường tổn thất về sức khỏe, tinh thần cho bà B  với số tiền là 59.500.000 đồng, do đó cấp sơ thẩm thụ lý và xét xử theo quan hệ tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 6 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn và bị đơn có kháng cáo trong hạn luật định. Do phía bị đơn đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu kháng cáo của các bị đơn theo Điều 289 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo yêu cầu Tòa án xét xử phúc thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, buộc bà Võ Thị Thu D có trách nhiệm bồi thường tổn thất về sức khỏe và tổn thất tinh thần cho bà Trần Thị B số tiền là 59.500.000 đồng và buộc bị đơn bà Mai Thị C phải có trách nhiệm bồi thường tổn thất về sức khỏe và tổn thất tinh thần cho bà Nguyễn Thị A số tiền là 55.500.000 đồng.

Xét thấy ngày 01/6/2016 giữa bà Trần Thị B – bà Nguyễn Thị A với bà Mai Thị C – bà Võ Thị Thu D có xảy ra đánh nhau gây thương tích đã được chính quyền địa phương lập biên bản ghi nhận vụ việc. Tại phiên tòa, bà Trần Thị B khẳng định bị bà Võ Thị Thu D đánh, còn bà Nguyễn Thị A khẳng định bị bà Mai Thị C đánh gây thương tích nên chỉ yêu cầu người trực tiếp gây thương tích bồi thường, cụ thể: bà B yêu cầu bà D bồi thường, bà A yêu cầu bà C bồi thường. Bà Võ Thị Thu D không thừa nhận có đánh nhau với bà Trần Thị B. Tuy nhiên, theo các chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa đã thể hiện giữa các bên có xảy ra đánh nhau và đều bị thương tích; bà Trần Thị B với bà Nguyễn Thị A phải điều trị tại bệnh viện và cung cấp các chứng từ có liên quan đến việc điều trị thương tích nên việc yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm hại là có căn cứ chấp nhận. Đối với bà Võ Thị Thu D với bà Mai Thị C thì không cung cấp được giấy tờ gì chứng minh có điều trị thương tích và cũng không có yêu cầu phản tố trong vụ án nên Tòa án không đặt ra xem xét. Theo các chứng từ biên lai bà Trần Thị B cung cấp thì số tiền điều trị thương tích do bị đánh trong ngày 01/6/2016 với số tiền là 2.694.889 đồng; còn bà Nguyễn Thị A số tiền là 752.993 đồng; ngoài ra còn có khoản tiền 01 lần chuyển viện cho bà B và bà A với số tiền là 330.000 đồng. Riêng các hóa đơn chứng từ bà Trần Thị B cung cấp đối với việc điều trị bệnh tim tại bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ vào ngày 21/02/2017 là không có căn cứ chấp nhận vì không có liên quan đến việc điều trị thương tích do đánh nhau vào ngày 01/6/2016. Vì vậy, cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận khoản tiền điều trị thương tích và tiền tàu xe đi lại của bà Trần Thị B với số tiền là 3.025.000 đồng, còn đối với bà Nguyễn Thị A với số tiền là 1.083.000 đồng là có cơ sở.

Đối với việc các nguyên đơn yêu cầu bồi thường khoản tiền ngày công lao động, nhưng lại không chứng minh được có thu nhập thực tế, hơn nữa bà Trần Thị B đã hết tuổi lao động. Tuy nhiên, tại thời điểm xảy ra đánh nhau ngay vào vụ lúa và thực tế bà B với bà A có tham gia mùa vụ nhưng đã bị thương tích nên có xem xét chấp nhận khoản tiền 10 ngày công lao động tương đương với số tiền 1.200.000 đồng đối với mỗi nguyên đơn.

Đối với yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần, trong lúc đánh nhau bà D với bà C có sử dụng hung khí là dao để gây thương tích cho bà B với bà A phải đi điều trị tại bệnh viện nên có làm ảnh hưởng đến tinh thần của bà B và bà A; nhưng xét thấy thương tích là không lớn nên chỉ chấp nhận khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho bà B với bà A mỗi người với số tiền là 1.210.000 đồng như nhận định của bản án sơ thẩm là phù hợp.

Từ những căn cứ trên xét thấy bản án sơ thẩm xét xử là có căn cứ, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà A và bà B là không có cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận. Do đó, ý kiến của vị đại diện viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 289, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Đình chỉ xét xử phúc phẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Mai Thị C, Võ Thị Thu D.

- Bác kháng cáo của bà Nguyễn Thị A, Trần Thị B, Mai Thị C, Võ Thị Thu D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị B đối với bà Võ Thị Thu D. Buộc bà Võ Thị Thu D có trách nhiệm bồi thường cho bà Trần Thị B với số tiền là 5.435.000đồng (năm triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị A đối với bà Mai Thị C. Buộc bà Mai Thị C có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị A với số tiền là 3.493.000đồng (ba triệu bốn trăm chín mươi ba nghìn đồng).

- Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: các đương sự được miễn nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.


118
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về