Bản án 15/2019/HS-ST ngày 19/03/2019 về tội tàng trữ vật liệu nổ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 15/2019/HS-ST NGÀY 19/03/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ VẬT LIỆU NỔ

Ngày 19 tháng 3 năm 2019 tại Trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2019, đối với bị cáo:

Trần Duy V Sinh năm: 1979 tại tỉnh Nam Định. Trú tại: Xóm 2, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh: Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn V (đã chết); Con bà: Vũ Thị Đ; Có vợ là: Triệu Thị Kim T; Con: Chưa có. Tiền án; Tiền sự: Không Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/01/2019 đến ngày 17/01/2019; bị tạm giam từ ngày 17/01/2019 đến nay - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ ngày 14/01/2019 Trần Duy V đi xe Mô tô BKS 14F1-1152 từ nhà đến Trung tâm y tế huyện H để uống Methadone cai nghiện ma túy. Sau khi uống xong, V đi ra cổng Trung tâm y tế thì gặp 01 người đàn ông không quen biết khoảng 35 tuổi. Sau khi trò chuyện làm quen, người này hỏi V có mua thuốc pháo không. Do đang có nhu cầu mua thuốc pháo để cuộn đốt vào dịp tết, V nói có mua và bảo chỉ có 300.000đ. Người này đồng ý bán cho V 300.000đ/01kg thuốc pháo và hẹn V 10 giờ cùng ngày có mặt tại cầu gần UBND xã T để giao dịch. Khoảng 10 giờ cùng ngày V đi đến địa điểm đã hẹn đứng đợi một lúc thì người đàn ông kia đi xe máy đến gặp V bảo V đi theo ra hướng phà TĐ. Khi đến khu vực nghĩa địa xã T, người đàn ông và V đi vào đó. Tại đây V đưa cho người đàn ông 300.000 đồng, người đàn ông nhận tiền và bảo V đứng đợi. Khoảng 10 phút sau người này đi đến chỗ V và đưa cho V 01 túi nilon màu đỏ và nói: “Thuốc pháo của mày đây, tao cho thêm 2 quả pháo cù về mà đốt”. V nhận túi nilon mở kiểm tra thấy có 01 túi thuốc pháo màu xanh và 02 quả pháo cù rồi treo túi nilon vào móc treo đồ bên phải xe và đi về. Khi V đến khu vực Trạm y tế xã T thì bị Công an huyện Trực Ninh và Công an xã T đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang hồi 13 giờ cùng ngày.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 túi Nilon màu xanh bên trong đựng chất bột màu xám. V khai là thuốc pháo V vừa mua với giá 300.000 đồng, được niêm phong ký hiệu là T.

- 02 vật hình tròn quận bằng giấy đường kính chỗ rộng nhất 4cm, đường kính chỗ hẹp nhất 2cm có gắn dây màu xanh dài 25cm. V khai 02 quả pháo cù, được niêm phong ký hiệu là P.

Ngoài ra còn thu của V 01 xe mô tô biển số: 14F1 – 1152.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Duy V không thu giữ gì.

Kết luận giám định số 99 ngày 16/01/2019 của phòng kỹ thuật Công an tỉnh Nam Định xác định:

- Mẫu T là thuốc pháo (thành phần chính gồm NaCL03, KC13, C,P), tổng khối lượng là 1,162 Kg.

- Mẫu ký hiệu P là pháo, có đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), tổng khối lượng; 0,08kg.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Cáo trạng số 07/CT-VKS-KSĐT ngày 14 tháng 02 năm 2019 của VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Trần Duy V về tội: “Tàng trữ vật liệu nổ” theo khoản 1 Điều 305 BLHS. Tại phiên tòa: Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Căn cứ khoản 1 Điều 305, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS, xử phạt Trần Duy V từ 18 – 24 tháng tù.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ: Toàn bộ số thuốc pháo. (Trừ đi số thuốc pháo đã sử dụng làm mẫu giám định); 01 quả pháo hình bóng điện tròn đựng trong túi nilon thu của bị cáo Trần Duy V.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Duy V là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ trực tiếp xâm hại tới an toàn công cộng - là quan hệ xã hội thuộc khách thể đã được BLHS ghi nhận và bảo vệ. Vật liệu nổ đã được Nhà nước - thông qua hệ thống pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã nhận thức được tàng trữ vật liệu nổ là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, để đảm bảo trật tự pháp luật, phòng ngừa chung tình hình tội phạm, việc áp dụng biện pháp trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là điều cần thiết.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại CQCSĐT. Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắ giữ người phạm tội quả tang; Biên bản ghi lời khai người làm chứng; Kết luận giám định.

Từ những chứng cứ nêu trên - HĐXX nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi tàng trữ vật liệu nổ (Thuốc pháo) của bị cáo Trần Duy V đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ vật liệu nổ” - Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 305 BLHS.

Do vậy việc VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ vật liệu nổ” tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKS-KSĐT ngày 14 tháng 02 năm 2019, là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, xét nhân thân của bị cáo - HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung tình hình tội phạm.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Trực Ninh xác định vụ án được giải quyết theo trình tự án trọng điểm.

[3] Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Khi quyết định hình phạt cũng cần cân nhắc tới các tình tiết: Bị cáo tại CQCSĐT cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo tỏ ra ăn ăn hối cải, bố mất sớm, mẹ bị cáo là người có công, hoàn cảnh gia dình khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương) để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để vừa thể hiện các nguyên tắc nhân đạo, công bằng của chính sách hình sự của Nhà nước, vừa đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo.

[5] Hình phạt bổ sung: HĐXX thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô biển số 14F1-1152 là xe của anh Phạm Văn T là em họ của Trần Duy V, khi cho V mượn không biết V dùng làm phương tiện đi phạm tội, Cơ quan CSĐT Công an huyện Trực Ninh đã trả lại cho anh T. Xét thấy việc xử lý vật chứng của CQCSĐT là đúng pháp luật nên không xem xét.

Đối với vật chứng của vụ án: HĐXX thấy là vật mà nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,080 kg pháo (có đặc tính của pháo nổ) của bị cáo Trần Duy V do chưa đủ lượng để xử lý bằng pháp luật hình sự về tội “Tàng trữ hàng cấm” nên Công an huyện Trực Ninh đã xử phạt hành chính đối với V bằng hình thức “Cảnh cáo” là đúng quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông đã bán thuốc pháo và pháo cho Trần Duy V, Cơ quan CSĐT Công an huyện Trực Ninh đã xác minh nhưng không xác định được nên không đủ cơ sở để xử lý.

[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Duy V phạm tội “Tàng trữ vật liệu nổ”.

Xử phạt Trần Duy V 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14 tháng 01 năm 2019.

2. Vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự - Tuyên tịch thu tiêu huỷ:

- Toàn bộ số thuốc pháo. (Trừ đi số thuốc pháo đã sử dụng làm mẫu giám định, còn lại là 1,115kg ) thu của bị cáo Trần Duy V. Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa Công an huyện Trực Ninh với Phòng kỹ thuật - Bộ CHQS tỉnh Nam Định ngày 27 tháng 02 năm 2019. Vật chứng này do Phòng kỹ thuật - Bộ CHQS tỉnh Nam Định xử lý.

- 01 quả pháo hình bóng điện tròn đựng trong túi nilon thu của bị cáo Trần Duy V. Vật chứng có đặc điểm biên bản bàn giao giữa CQCSĐT Công an huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định ngày 22 tháng 02 năm 2019. Vật chứng này do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xử lý.

3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Duy V phải nộp 200.000 đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


38
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 15/2019/HS-ST ngày 19/03/2019 về tội tàng trữ vật liệu nổ

Số hiệu:15/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trực Ninh - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về