Bản án 15/2018/DS-ST ngày 16/11/2018 về tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 15/2018/DS-ST NGÀY 16/11/2018 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SỨC KHỎE BỊ XÂM PHẠM

Ngày 16 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 70/2018/TLST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2018 về việc tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2018/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn L;

Địa chỉ: Tổ dân phố 2, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T;

Địa chỉ: Tổ dân phố 2, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nguyên đơn anh Nguyễn Văn L trình bày:

Anh L và chị Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn năm 1994 tại UBND xã H, huyệnH, tỉnh Nam Định.

Giữa anh L và chị T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Ngày 29/11/2017 trong khi cải nhau, chị T đã dùng tay đánh vào mặt anh L làm anh L bị gãy xương sống mũi phải nhập Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Nông để điều trị từ ngày 29/11/2017 đến ngày 06/12/2017. Sau khi xuất viện, anh L đã làm đơn trình báo gửi Công an phường Nghĩa Đức để được giải quyết, kết quả giám định tỉ lệ thương tích mà chị T gây ra cho anh L là 09%, chị T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích cho anh L.

Theo đơn khởi kiện anh L yêu cầu chị T phải bồi thường cho anh L các khoản tiền như sau:

- Tiền thuốc điều trị, chi phí phẩu thuật là 5.000.000 đồng;

- Tiền mất thu nhập trong thời gian điều trị và thời gian dưỡng bệnh là 500.000 đồng x 15 ngày = 7.500.000 đồng;

- Tiền công của người chăm sóc trong thời gian điều trị là 8 ngày x 200.000 đồng= 1.600.000 đồng;

- Tiền bồi bổ sức khỏe sau khi bị đánh là 5.000.000 đồng;

- Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm hại là 1.300.000 đồng x 20 tháng = 26.000.000 đồng.

Tổng cộng là 45.100.000 đồng. Do chị T đã bồi thường cho anh L 5.000.000đồng, nên nay anh L chỉ yêu cầu chị T phải bồi thường cho anh L tổng số tiền là 40.100.000đ (bốn mươi triệu một trăm nghìn đồng). Theo bị đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị T thừa nhận ngày 29/11/2017 trong khi cãi nhau, chị có đánh vào mặt anh L làm anh L gãy xương sống mũi phải nhập Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Nông để điều trị từ ngày 29/11/2017 đến ngày 06/12/2017, kết quả giám định tỉ lệ thương tích mà chị gây ra cho anh L là 09%, chị T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích cho anh L.

Căn cứ vào các hóa đơn tiền thuốc, tiền điều trị tại bệnh viện của ông L thể hiện tổng chi phí anh L bỏ ra để điều trị thương tích trên là 774.016 đồng. Ngày 01/12/2018, chị T đã bồi thường cho anh L số tiền 5.000.000 đồng, sau khi trừ đi chi phí điều trị trên là 774.016 đồng, thì số tiền còn lại 4.225.984 đồng chị T đã bồi thường thêm cho anh L là hợp lý. Do đó, chị T không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh L về việc đề nghị chị phải bồi thường thêm cho anh L với tổng số tiền là 40.100.000 đồng.

Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Văn L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn chị Nguyễn Thị Th bồi thường cho anh L tổng số tiền 40.100.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị đơn chị Nguyễn Thị T không chấp nhận yêu cầu khởi kiện trên của anh L và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 6Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật Dân sự, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn L, buộc chị Nguyễn Thị T phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn L với tổng số tiền là 12.434.016 đồng, do chị T đã bồi thường cho anh L 5.000.000 đồng, nên chị T còn phải tiếp tục bồi thường cho anh L số tiền 7.434.016 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án "Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm" theo quy định tại khoản 6 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nơi cư trú của bị đơn chị Nguyễn Thị T tại tổ dân phố 2, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông nên Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung: Sự kiện pháp lý xảy ra vào ngày 29/11/2017 vì vậy cần áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.

[3] Ngày 29/11/2017 trong khi cãi nhau chị Nguyễn Thị T đã dùng tay đánh vào mặt anh Nguyễn Văn L làm anh L bị gãy xương sống mũi phải nhập Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Nông để điều trị từ ngày 29/11/2017 đến ngày 06/12/2017. Sau khi xuất viện, anh L đã làm đơn trình báo gửi Công an phường Nghĩa Đức để được giải quyết, kết quả giám định tỉ lệ thương tích mà chị T gây ra cho anh L là 09%. Xét yếu tố lỗi, chị T là người có lỗi.

Xét yêu cầu bồi thường của anh Nguyễn Văn L là phù hợp với Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tuy nhiên đối với từng yêu cầu cụ thể: Về yêu cầu bồi thường tiền thuốc điều trị, chi phí phẩu thuật của anh L với số tiền 5.000.000 đồng, nhưng hóa đơn bán hàng ngày 06/12/2017 thể hiện tiền bệnh nhân chi trả là 774.016 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận số tiền mà anh L đã bỏ ra để điều trị trong hóa đơn là 774.016 đồng.

Anh Nguyễn Văn L yêu cầu bồi thường tiền bồi dưỡng để phục hồi sức khỏe là 5.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy tại tiểu mục 1.1 mục 1 phần II Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không có quy định về số tiền này nên không có cơ sở chấp nhận.

Trong thời gian điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Nông từ ngày 29/11/2017 đến ngày 06/12/2017 thì đương nhiên không lao động có thu nhập được, và sau khi xuất viện còn phải chờ phục hồi sức khỏe. Do đó, yêu cầu bồi thường thu nhập bị mất trong thời gian điều trị và sau khi xuất viện về nhà tổng cộng 15 ngày là phù hợp. Do thu nhập hằng ngày của anh L không ổn định và không thể xác định được, nên cần áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại của người bị thiệt hại để làm cơ sở tính thu nhập bị mất của anh L. Căn cứ vào lời khai của anh L thì tại thời điểm anh L bị gây thại hại về sức khỏe ngày 29/11/2017 anh L đang làm nghề chụp hình cưới tại Ảnh viện áo cưới L T, địa chỉ tổ dân phố 2, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông. Anh L yêu cầu bồi thường thu nhập của anh trong thời gian điều trị và thời gian dưỡng bệnh với mức là 500.000 đồng/ngày là không phù hợp, vì theo các biên bản xác minh vào thời điểm tháng 11/2017 mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại với anh L là 300.000 đồng/ngày, nên HĐXX chỉ chấp nhận mức bồi thường thu nhập mất của anh L cụ thể như sau: 15 ngày x 300.000 đồng =4.500.000 đồng.

Trong thời gian điều trị 08 ngày tại bệnh viện thì anh L phải có người chăm sóc, do vậy thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc anh L tại bệnh viện là có cơsở, Hội đồng xét xử cần chấp nhận. Do đó, yêu cầu bồi thường thu nhập thực tế của người chăm sóc người bị thiệt hại theo ngày công tại thời điểm tháng 11 năm 2017 là200.000 đồng/ngày là phù hợp, vì theo xác minh vào thời điểm tháng 11/2017 thì ngày công lao động phổ thông tại tổ dân phố 3, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông là 200.000 đồng/ngày, cụ thể mức bồi thường như sau: 8 ngày x 200.000 đồng/01 người= 1.600.000 đồng/01 người.

Về yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần: Hội đồng xét xử xét thấy cần căn cứ mức lương cơ sở để tính tiền bồi thường tổn thất về tinh thần cho anh L, tỷ lệ thương tích mà chị Nguyễn Thị T gây ra cho anh Nguyễn Văn L là 9%, vì vậy cần buộc chị Nguyễn Thị T phải bồi thường số tiền tổn thất tinh thần cho anh L trong 6 tháng là phù hợp, mức lương cơ sở hiện nay là 1.390.000 đồng/tháng (theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 72/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ), cụ thể số tiền bồi thường: 6 tháng x 1.390.000 đồng/tháng = 8.340.000 đồng.

Như vậy tổng số tiền mà chị Nguyễn Thị T phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn L là 15.214.000 đồng. Do chị T đã bồi thường cho anh L 5.000.000 đồng, nên chị T cần phải bồi thường tiếp số tiền 10.214.000 đồng.

[4] Do yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn L được chấp nhận một phần nên chị Nguyễn Thị T phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền là 10.214.000 đồng x 5% = 511.000 đồng.

[5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 củaBộ luật Tố tụng dân sự; các điều 584, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn L đối với chị Nguyễn Thị T.

Buộc chị Nguyễn Thị T phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn L số tiền là 10.214.000đ (mười triệu hai trăm mười bốn nghìn đồng).

Kể tư ngay anh Nguyễn Văn L có đơn yêu cầu thi hành án, chị Nguyễn Thị T không trả số tiền nêu trên thì hàng tháng chị Nguyễn Thị T sẽ phải trả cho anh Nguyễn Văn L tiền lãi theo mức lãi suất mà pháp luật quy định tương ứng với số tiền và thời gian chậm tra theo khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc chị Nguyễn Thị T phải nộp 511.000 đồng (năm trăm mười một nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


84
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về