Bản án 15/2018/DSST ngày 06/09/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 15/2018/DSST NGÀY 06/09/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 06 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnhVĩnh Phúc xét xử sơ  thẩm vụ án thụ lý số 39/2018/TLST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2018 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2018/QĐXX-ST ngày 27/8/2018 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T (VPBFC)

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng G, chức vụ Chủ tịch hội đồng thành viên Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thảo H, chức vụ Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý - Trung tâm thu hồi nợ - Khối quản trị rủi ro - Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T; địa chỉ: Tầng 2 tòa nhà R, số 9 Đoàn Văn B, phường 12, quận 4 thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

Người được ủy quyền lại: Bà Lê Thị T, sinh năm 1989 (văn bản ủy quyền số 88/UQTT-QTRR.17 ngày 01/12/2017); địa chỉ: Đường L, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt)

2. Bị đơn: Bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1975

Địa chỉ cư trú: Thôn N, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 20/11/2017 cùng các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày: Ngày 25/8/2015 Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T (sau đây gọi tắt là Công ty), có ký hợp đồng tín dụng số 20150828-129006-0003 với bà Lê Thị Kim L ở thôn thôn N, xã B, huyện V vay số tiền 31.650.000 đồng. Lãi suất là 3.75%/tháng, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân, hình thức vay tín chấp không có tài sản bảo đảm, thời hạn trả nợ 36 tháng. Tổng số tiền bà L phải trả cho Công ty trong vòng 36 tháng cả gốc và lãi là 58.598.000 đồng, cụ thể trong 35 tháng đầu mỗi tháng bà L trả cho Công ty 1.617.000đồng, tháng cuối cùng phải trả 2.003.000 đồng, kỳ thanh toán vào ngày 01 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 01/10/2015. Sau khi ký hợp đồng tín dụng bà L đã nhận đủ số tiền vay, quá trình thực hiện hợp đồng bà L trả được nợ cho Công ty 03 lần với tổng số tiền là 4.851.000 đồng, trong đó tiền gốc đã trả là 1.211.611 đồng, tiền lãi là 3.639.389 đồng. Kể từ ngày 01/12/2015 bà L không trả cho Công ty bất kỳ một khoản tiền gốc và tiền lãi nào khác. Nay Công ty yêu cầu bà L phải trả toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày 01/9/2018 (ngày hết hạn hợp đồng) là 53.747.000 đồng, trong đó khoản nợ gốc 30.438.389 đồng, khoản nợ lãi là 23.308.611 đồng. Đối với tiền lãi phát sinh Công ty đề nghị tính với lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.

Tại phiên tòa bị đơn bà Lê Thị Kim L vắng mặt nhưng theo biên bản lấy lời khai ngày 13/6/2018, biên bản hòa giải ngày 15/6/2018 bà L trình bày: Bà thừa nhận có vay tiền của Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T 31.650.000 đồng, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân thời hạn vay và lãi xuất như Công ty trình bày là đúng. Sau khi ký hợp đồng tín dụng bà đã nhận đủ số tiền trên, quá trình vay bà đã trả cho Công ty được hơn 4.000.000 đồng (số tiền cụ thể bà không nhớ). Số nợ gốc và lãi theo như cách tính của Công ty là đúng bà không có thắc mắc gì, nay Công ty yêu cầu bà trả số tiền gốc, tiền lãi còn nợ bà nhất trí. Nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không có tiền trả nợ ngay cho Công ty bà xin được trả dần trong 02 tháng, từ ngày 15/6/2018 đến 15/8/2018 trả 10.000.000 đồng, số còn lại bà sẽ trả trong tháng tiếp theo là ngày 15/9/2018. Mục đích bà vay số tiền trên để tiêu dùng cá nhân, nên ông Lê Văn Đ (chồng bà) và các con không có liên quan gì đến việc bà vay tiền của Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T. Do bận công việc nên bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt (bà L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường phát biểu về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của các đương sự đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 280, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQ14 của ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T. Buộc bà Lê Thị Kim L phải trả cho Công ty số tiền gốc còn nợ tính đến ngày 01/9/2018 (ngày hết hạn hợp đồng) là 30.438.389 đồng, tiền lãi là 23.308.611 đồng, tổng cộng là 53.747.000 đồng. Nếu bà L không trả được thì phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. Bà L phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Về sự vắng mặt của bà Lê Thị Kim L đã có lời khai vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự nêu trên.

[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án "tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[3]. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đã thể hiện: Tuy bà L vắng mặt nhưng căn cứ vào hợp đồng tín dụng số20150828 – 129006 – 0003 ngày 25/8/2015 thì bà Lê Thị Kim L có vay 31.650.000 đồng của Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T. Lãi suất thỏa thuận là 3.75%/tháng, thời hạn vay 36 tháng, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân, hình thức vay tín chấp không có tài sản đảm bảo hợp đồng trên là hợp pháp. Sau khi ký hợp đồng bà L đã trả nợ cho Công ty được 03 kỳ với tổng số tiền là 4.851.000 đồng, trong đó tiền gốc đã trả là 1.211.611 đồng, tiền lãi là 3.639.389 đồng, ngoài ra bà L không trả thêm cho Công ty khoản tiền nào khác.

Như vậy do bà L đã vi phạm cam kết về thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay nên cần buộc bà L phải trả nợ cho Công ty tài chính TNHH một thành viên

Ngân hàng Việt Nam T số tiền gốc là 30.438.389 đồng, tiền lãi là 23.308.611 đồng, tổng cộng là 53.747.000 đồng và trả lãi theo Bộ luật dân sự.

Việc Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T và bà Lê Thị Kim L thỏa thuận mức lãi suất đối với khoản vay tiêu dùng của bà L là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án bà Lê Thị Kim L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.687.000 đồng (53.747.000đ x 5% = 2.687.350đ làm tròn = 2.687.000đ). Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.268 .000 đồng.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 280, 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T.

Buộc bà Lê Thị Kim L phải trả nợ cho Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T 30.438.389 đồng tiền gốc và 23.308.611 đồng tiền lãi tổng cộng là 53.747.000 đồng (năm mươi ba triệu bảy trăm bốn bảy nghìn đồng).

Trường hợp nếu bà Lê Thị Kim L không trả được thì phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Kim L phải chịu 2.687.000đ (hai triệu sáu trăm tám bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng Việt Nam T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Công ty 1.268.000 đồng (một triệu hai trăm sáu tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số AA/2016/0003775 ngày 16/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Lê Thị Kim L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".


109
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về