Bản án 15/2017/DSPT ngày 20/03/2017 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 15/2017/DSPT NGÀY 20/03/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 20 tháng 3 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2016/TLPT-DS ngày 29/11/2016 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2016/DSST ngày 26/09/2016 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 09/2016/QĐ-PT ngày 15/12/2016 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1967.Có mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1976.Có mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, luật sư Hoàng Minh Hiển, văn phòng luật sư Bắc Hà Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người kháng cáo: Anh Nguyễn Văn H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo án sơ thẩm và tài liệu trong hồ sơ thì nội dung vụ kiện như sau:

Phía nguyên đơn là bà Nguyễn Thị D trình bày: Do có quan hệ quen biết, nên bà D có cho anh Nguyễn Văn H vay một số tiền. Cụ thể theo giấy vay tiền đề  ngày 11/8/2015, bà có cho anh H vay số tiền là 20.000.000đ, khi vay các bên có lập văn bản, trong giấy vay không thỏa thuận thời hạn vay còn lãi suất các bên thỏa thuận miệng là theo lãi suất ngân hàng. Giấy vay tiền là do anh H viết và ký xác nhận bên dưới. Bà D trình bày do phần phía dưới của giấy vay có ghi một số nội dung không liên quan đến việc vay mượn, nên bà thấy không cần thiết nên đã cắt bỏ cho gọn. Thời gian sau, mặc dù bà đã đòi nhưng anh H không trả. Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh H phải trả bà tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng và lãi suất theo lãi suất ngân hàng từ 11/8/2015 đến nay.

Phía bị đơn do anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh xác nhận ngày 11/8/2015 anh có vay của bà D số tiền 20.000.000 đồng như phía bà D trình bày. Khi vay hai bên không thỏa thuận thời hạn trả và lãi suất thì thỏa thuận là theo lãi suất ngân hàng. Về việc trả nợ: Theo anh H trình bày do anh có bán thức ăn chăn nuôi từ ngày 07/7/2015 đến ngày 26/10/2015 phía bà D có mua cám của anh với số tiền 19.725.000 đồng. Ngày 27/01/2016 bà D có đến nhà anh để thanh toán thì hai bên đã thanh toán và sau khi tính toán thì anh phải trả bà D số tiền cả gốc và lãi là số tiền 20.600.000 đồng. Sau khi khấu trừ với tiền cám thì anh còn phải trả cho bà D số tiền nợ gốc là 255.000 đồng và số tiền lãi là 600.000 đồng; tổng cộng anh đã trả bà D số tiền 855.000 đồng. Như vậy, hiện nay anh không còn nợ gì bà D nữa.

Ngoài ra, khi vay tiền bà D thì hai bên có viết ra một tờ giấy trong quyển sổ ghi chép của bà D. Khi anh vay tiền bà D thì có cả ông Nguyễn Văn G (chồng bà D) chứng kiến. Đến ngày 27/01/2016 khi thanh toán xong thì anh có ghi nội dung: “Đã thanh toán xong ngày 27/01/2016” vào phía dưới nội dung ghi nợ trong sổ bà D. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của bà D thì anh H không đồng ý vì anh cho rằng anh đã thanh toán xong số tiền nợ này cho bà D.

Từ nội dung trên, bản án sơ thẩm đã căn cứ vào Điều 471, Điều 474; khoản 2 Điều 476, Điều 277 Bộ luật dân sự; Pháp lệnh về án phí, lệ phí tòa án; Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc thi hành pháp lệnh án phí lệ phí tòa án xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Văn H phải trả lại số tiền đã vay theo giấy vay nợ ngày 11/8/2015.

Buộc anh Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ trả bà Nguyễn Thị D số tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng và tiền nợ lãi là 2.025.000 đồng, tổng số tiền cả nợ gốc và lãi là 22.025.000 đồng.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi án sơ thẩm xử, ngày 05/10/2016 anh Nguyễn Văn H làm đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm.

Xét thấy đơn kháng cáo của anh H trong thời hạn luật định; hình thức và nội dung đơn kháng cáo phù hợp quy định của pháp luật nên đơn kháng cáo của anh H được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm: Ngày 23/12/2016 anh Nguyễn Văn H có giao nộp cho Tòa án cấp phúc thẩm 01 USB theo như anh H trình bày nội dung trong USB này được anh sao chép từ chiếc điện thoại của anh dùng để ghi âm cuộc nói chuyện về việc khấu trừ và thanh toán tiền nợ với tiền mua cám với bà D, ông G.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, nguyên đơn giữ yêu cầu khởi kiện, các bên không hòa giải được.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Bản án sơ thẩm không căn cứ vào các tài liệu chứng cứ theo qui định của pháp luật, dùng các chứng cứ giả, có sự tẩy xóa, không triệu tập nhân chứng, việc vay nợ anh H đã thanh toán xong. Luật sư đề nghị HĐXX sửa án sơ thẩm bác đơn khởi kiện của bà D.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật. Về đường lối giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi thảo luận và nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ cũng như lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa hôm nay thì thấy:

Căn cứ vào giấy biên nhận ngày 11/8/2015 bà D có cho anh H vay số tiền là 20.000.000 đồng, khi vay hai bên có viết giấy vay nợ. Tại thời điểm vay tiền các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và các bên đều tự nguyện giao kết; anh H đã nhận đủ số tiền vay và ký xác nhận vào giấy vay nợ. Trong giấy vay nợ không thỏa thuận thời hạn trả nợ. Mặc dù trong giấy vay nợ không thỏa thuận lãi suất nhưng theo lời trình bày thì các bên đều thừa nhận việc vay nợ này có lãi suất, lãi suất được thỏa thuận miệng chung chung là theo lãi suất Ngân hàng. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định giao dịch dân sự vay mượn tiền giữa anh H và bà D được giao kết dưới hình thức văn bản, không thỏa thuận thời hạn trả và có lãi suất là phù hợp.

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm: Ngày 23/12/2016 anh Nguyễn Văn H có giao nộp cho Tòa án cấp phúc thẩm 01 USB theo như anh H trình bày nội dung trong USB này được anh sao chép từ chiếc điện thoại của anh dùng để ghi âm cuộc nói chuyện về việc khấu trừ và thanh toán tiền nợ với tiền mua cám với ông G. HĐXX xét thấy: Trong suốt quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, anh H không hề trình bày việc liên quan đến đoạn hội thoại được ghi âm này, cũng như việc anh H không hề giao nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm. Mặt khác, anh H cho rằng anh nợ tiền bà D 20.000.000 đồng anh đã khấu trừ tiền nợ này với số tiền ông G mua cám của anh, hai bên đã khấu trừ xong. Để đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử, nếu anh H cho rằng ông G nợ tiền cám anh thì anh có thể yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác khi đó quyền và lợi ích của anh H vẫn được đảm bảo.

Tại phiên tòa anh H vẫn cho rằng anh đã thanh toán xong cho bà D bằng việc trừ nợ tiền mua cám, anh không còn nợ nần bà D

Xem xét kháng cáo của anh H HĐXX xét thấy:

Thứ nhất: Anh H kháng cáo cho rằng giấy vay tiền giữa anh và bà D bị tẩy xóa ghi thêm và bị cắt nên anh không chấp nhận giấy vay tiền này. Nội dung hợp đồng: “Hôm nay, ngày 11/8/2015. Em H vay của anh chị G -  D với số tiền là 20.000.000 đ (Hai mươi triệu đồng chẵn). Khi nào anh, chị cần đến thì em hoàn lại” phía dưới người vay là anh H đã ký và ghi họ tên. Anh H thừa nhận đây là chữ viết và chữ ký của mình. Quá trình xem xét, đánh giá giấy vay tiền giữa anh H và bà D, HĐXX thấy: Nội dung chính là 04 dòng đầu của giấy vay tiền thể hiện việc vay tiền của anh H với bà D không bị tẩy xóa, sửa chữa. Phần tẩy xóa sửa chữa nằm ngoài nội dung vay nên không ảnh hưởng đến giá trị có hiệu lực của hợp đồng vay. Việc vay mượn do chữ anh H tự viết và ký tên; vậy Tòa án cấp sơ thẩm sử dụng hợp đồng vay tiền này làm chứng cứ chứng minh trong vụ án là phù hợp.

Thứ hai: Anh H cho rằng anh đã thanh tóan số tiền nợ này cho bà D và anh đã ghi nội dung: “Đã thanh toán xong ngày 27/01/2016” phía cuối giấy vay tiền. Phía anh H không đưa ra được bất kỳ căn cứ, tài liệu chứng minh nào cho việc trả tiền, anh cho rằng bà D tẩy xóa trước khi phô tô, tuy nhiên giấy vay tiền do bà D xuất trình chỉ là một phần tờ giấy, phía cuối giấy vay tiền này không hề có nội dung trên, và chủ cửa hàng phô tô là bà Nguyễn Thị N cũng có đơn xác nhận, bà có chứng kiến bà D tẩy xóa các số điện thoại, sau đó bà mới phô tô là phù hợp với lời khai của bà D. Hơn nữa nếu anh H đã thanh toán xong thì anh phải là người lưu giữ bảo quản chứng cứ, ngoài ra anh H không cung cấp được căn cứ nào chứng minh cho việc đã thanh toán. HĐXX không thể chấp nhận yêu cầu này của anh H.

Thứ ba: Anh H trình bày anh chỉ vay tiền bà D một lần duy nhất nhưng bà D lại có 02 mảnh giấy khác nhau gửi lên Tòa án. Quá trình nghiên cứu, xem xét tài liệu trong hồ sơ; HĐXX thấy: Theo như anh H trình bày trong hồ sơ có 02 giấy vay tiền thứ nhất là bản photo (BL05) và thứ hai là bản chính (BL31c). Về cơ bản nội dung của 02 giấy này là từ một bản nhưng bản photo có một số nội dung đã bị che bớt so với bản gốc; phần nội dung thiếu này không liên quan đến nội dung chính thể hiện việc vay mượn tiền. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào giấy vay tiền là bản chính (BL31c) và sử dụng chứng cứ này trong vụ án để buộc anh H thực hiện theo nội dung giấy vay tiền này là có căn cứ. Do vậy không chấp nhận kháng cáo của anh H, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

Về án phí phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm nên anh H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Bởi các lẽ trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 471, Điều 474; khoản 2 Điều 476, Điều 277 Bộ luật dân sự. Giữ nguyên bản án sơ thẩm;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Văn H phải trả lại số tiền đã vay theo giấy vay nợ ngày 11/8/2015.

Buộc anh Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ trả bà Nguyễn Thị D số tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng và tiền nợ lãi là 2.025.000 đồng, tổng số tiền cả nợ gốc và lãi là 22.025.000 đồng.

Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả bà D số tiền 440.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 04415 ngày 18/8/2016 của chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Võ.

Anh Nguyễn Văn H phải chịu 1.100.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm và 200.000đ án phí  dân sự phúc thẩm. Xác nhận anh H  đã nộp số tiền 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 04449 ngày 06/10/2016 tại chi Cục thi hành án dân sự huyện Quế Võ.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng người có nghĩa vụ phải thi hành còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất qui định tại điều 468 Bộ luật dân sự.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


304
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 15/2017/DSPT ngày 20/03/2017 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:15/2017/DSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bắc Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/03/2017
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về