Bản án 151/2018/HSST ngày 22/10/2018 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 151/2018/HSST NGÀY 22/10/2018 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 142/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2018/QĐST- HS ngày 08 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Dương Q; Sinh năm: 1995 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: đường M, Phường N, quận Bình Thạnh, Tp.HCM; Nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Con ông Nguyễn Văn K và bà Dương Thị Thu H; Hoàn cảnh gia đình: Anh chị em có 04 người, bị cáo là người thứ 03; Chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 18/12/2015, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 3 năm tù về tội Cướp giật tài sản (Bản án số 282/2015/HSST), ngày 14/01/2018 chấp hành xong hình phạt tù; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 22/7/2011, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 2 năm tù về tội Cướp giật tài sản (Bản án số 166/2011/HSST), ngày 01/10/2012 chấp hành xong hình phạt tù;Tạm giam: 20/6/2018 (Có mặt)

Những người tham gia tố tụng:

Người bị hại: Anh Hồ Trịnh K; Địa chỉ: Đường N, Phường P, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 ngày 20/6/2018, Nguyễn Dương Q điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream, biển kiểm soát: 59S1-50918 lưu thông về hướng cầu Chu Văn An thì nhìn thấy tại trước số đường S, Phường T, quận Bình Thạnh có anh Hồ Trịnh K đang ngồi trên xe mô tô sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung J2 Pro màu đen nên nảy sinh ý định cướp giật tài sản. Q điều khiển xe mô tô chạy ngược theo hướng đối diện với anh K rồi áp sát dùng tay trái giật chiếc điện thoại của anh K và tăng ga bỏ chạy. Khi đến trước số đường O, Phường T, quận Bình Thạnh, Q va chạm với người đi đường nên bị té ngã, đồng thời nghe thấy tiếng tri hô nên Q bỏ lại xe và điện thoại vừa cướp giật được chạy bộ đến trước số đường O, Phường T, quận Bình Thạnh, thì bị người dân xung quanh bắt giữ giao công an xử lý.

Vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung J2 Pro màu đen (đã trả lại cho bị hại là anh Hồ Trịnh K).

- 01 giấy đăng ký xe và 01 xe mô tô hiệu Honda Dream, biển kiểm soát: 59S1-50918, qua xác minh do chị Nguyễn Hoàn Phương T đứng tên chủ sở hữu. Chị T cho biết vào đầu tháng 02/2018 đã bán chiếc xe trên cho anh Nguyễn Dương B, do quen biết nên không làm hợp đồng mua bán, chỉ đưa giấy đăng ký xe cho anh B. Trưa ngày 20/6/2018, anh B có cho anh ruột là Nguyễn Dương Q mượn xe đi làm, anh B không biết việc Q sử dụng xe để đi cướp giật tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe và giấy đăng ký chiếc xe trên cho anh Nguyễn Dương B.

- 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Dương Q.

Tại Bản kết luận số: 115/KLĐGTS-TCKH ngày 07 tháng 8 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Thạnh kết luận:  “Một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Pro màu đen trị giá 1.600.000đ” (BL: 40)

Tại Cơ quan điều tra công an quận Bình Thạnh, Nguyễn Dương Q khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như bản cáo trạng đã nêu.

Tại Bản cáo trạng số 140/CT-VKSBTh ngày 11 tháng 9 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Dương Q về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với người bị hại là anh Hồ Trịnh K và người bị hại đã làm đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, việc vắng mặt của người bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án và có cơ sở pháp lý nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người bị hại.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Dương Q như bản cáo trạng đã nêu, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Dương Q từ: 04(bốn) năm 06(sáu) tháng đến 05(năm) năm 06(sáu) tháng tù. Đề nghị tuyên xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân đã thực hiện, không có tranh luận gì với đại diện viện kiểm sát và mong Hội đồng xét xử xem xét xử mức án nhẹ để tạo điều kiện cho bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Hồ Trịnh K đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Dương Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với Kết luận điều tra của Công an quận Bình Thạnh, với Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng bị cáo Nguyễn Dương Q phạm tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Dương Q đã có hành vi công khai, liều lĩnh, dùng xe máy áp sát nạn nhân để cướp giật tài sản nên thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

[3] Về động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bằng ý thức của mình bị cáo biết rõ đó là tài sản đang thuộc sở hữu của người khác nhưng với ý đồ chiếm đoạt tài sản của người khác nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở về cách quản lý tài sản của chủ sở hữu để thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự quản lý xã hội của Nhà nước, gây tác động xấu đến đời sống xã hội, gây hoang mang lo lắng cho nhân dân khi tham gia lưu thông trên đường phố. Hành vi cướp giật tài sản còn có thể gây nguy hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác khi bị cáo cố tình trốn chạy sự truy đuổi của người dân và cơ quan chức năng nên Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

 [4] Xét trước Tòa bị cáo đã có thái độ khai báo thật thà, ăn năn hối cải về việc làm sai trái của mình, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại và họ cũng không có yêu cầu bồi thường gì khác đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo điểm h, điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm thể hiện tính nhân đạo của Pháp luật Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Tòa án đã tống đạt trực tiếp cho người bị hại và người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không có gì phải xem xét giải quyết.

 [6] Về xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung J2 Pro màu đen Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại là anh Hồ Trịnh K và người bị hại không có thắc mắc, khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét giải quyết lại (BL: 37)

- 01 giấy đăng ký xe và 01 xe mô tô hiệu Honda Dream, biển kiểmsoát: 59S1-509.18, số khung: RLHHA0800AY-215207, số máy: HA08E- 1515304. Qua xác minh do Chị Nguyễn Hoàn Phương T đứng tên chủ sở hữu và đã bán xe này cho anh Nguyễn Dương B. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Dương B và anh B không có thắc mắc, khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét giải quyết lại (BL: 43).

- 01 căn cước công dân số 079095008164 mang tên Nguyễn Dương Q là của bị cáo. Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Nguyễn Dương Q.

[7] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của phápluật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Dương Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng điểm d, điểm i khoản 2 Điều 171; điểm h, điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Dương Q 04(bốn) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2018.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tuyên trả lại cho anh Hồ Trịnh K 01 điện thoại di động hiệuSamsung J2 Pro màu đen (Theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 21/6/2018 của Công an Phường 26, quận Bình Thạnh)

- Tuyên trả lại cho anh Nguyễn Dương B 01 giấy đăng ký xe và 01 xe mô tô hiệu Honda Dream, biển kiểm soát: 59S1-509.18, số khung: RLHHA0800AY-215207, số máy: HA08E-1515304 (Theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 23/8/2018 của Công an quận Bình Thạnh).

- Tuyên trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân số 079095008164 mang tên Nguyễn Dương Q

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.


87
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 151/2018/HSST ngày 22/10/2018 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:151/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về