Bản án 150/2018/HNGĐ-ST ngày 16/07/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 150/2018/HNGĐ-ST NGÀY 16/07/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 16 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 334/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 04 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 90/2018/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị A, sinh năm 1994. (có mặt)

Địa chỉ: Ấp K, xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Anh Phạm Minh T, sinh năm 1992. (vắng mặt)

HKTT: ấp T, xã H, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

Tạm trú: Ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 03 tháng 4 năm 2018 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Lê Thị A trình bày: Chị và anh Phạm Minh T có tìm hiểu nhau thời gian 04 tháng sau đó chung sống với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến tháng 11 năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T thường xuyên uống rượu, đam mê cờ bạc, không quan tâm đến gia đình, nên chị và anh T đã ly thân từ tháng 03 năm 2016 đến nay. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị xin ly hôn với anh Phạm Minh T

Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh T chưa có con chung.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: Không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng anh T vẫn vắng mặt, cũng không có văn bản phản hồi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Lê Thị A khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Minh T; anh Phạm Minh T có tạm trú tại ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và hiện đang có mặt tại địa phương nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn anh Phạm Minh T vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị A và anh T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã H, huyện B, tỉnh Tây Ninh vào số 72, ngày 29 tháng 9 năm 2015, nên hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Thấy rằng, trong quá trình chung sống, Chị A cho rằng nguyên nhân mâu thuẩn là do anh T thường xuyên uống rượu, đam mê cờ bạc, không quan tâm đến gia đình, nên chị A và anh T đã xa nhau từ tháng 3 năm 2016 cho đến nay. Đối với anh Phạm Minh T vắng mặt. Trong quá trình thụ lý giải quyết và tại phiên tòa hôm nay, anh T vắng mặt, đồng thời anh T cũng không cung cấp hay phản hồi ý kiến và hướng đoàn tụ về việc ly hôn của chị A, chứng tỏ anh T không có thiện chí để hàn gắn trong khi thời gian xa nhau từ tháng 3 năm 2016 cho đến nay.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng đời sống chung vợ chồng của chị A và anh T không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của chị A đối với anh T là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về con chung: Chị A và anh T chung sống chưa có con chung, nên không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Chị A xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về nợ chung: Chị A khai không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí: Chị A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị A đối với anh Phạm Minh T về việc “Ly hôn”.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị A được ly hôn với anh Phạm Minh T.

2. Về án phí: Chị Lê Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0002533 ngày 3/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An sang án phí để thi hành. Chị A không phải nộp tiếp.

Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


41
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 150/2018/HNGĐ-ST ngày 16/07/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:150/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/07/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về