Bản án 150/2018/HNGĐ-ST ngày 05/06/2018 về ly hôn, nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 150/2018/HNGĐ-ST NGÀY 05/06/2018 VỀ LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Ngày 05/6/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 30/2018/TLST-HNGĐ ngày 01/3/2018 V/v: “Ly hôn và tranh chấp con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/5/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị B, sinh năm: 1993; (có mặt).

- Bị đơn: Ông Lê Xuân T, sinh năm: 1989; (vắng mặt).

Cùng trú tại: khối 4 thị trấn Núi Th, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Đặng Thị B trình bày tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa: Tôi và ông Lê Xuân T tự nguyện tìm hiểu đến với nhau thành vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng kí kết hôn vào năm 2011 tại UBND thị trấn Núi Th, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chồng tôi không lo làm ăn, thường xuyên bài bạc số đề về đánh vợ con. Xét thấy tình cảm của chúng tôi không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chúng tôi được ly hôn.

Về con chung: có 01 con chung là Lê Đặng Ngọc Q, sinh ngày: 08/3/2012. Tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được nuôi cháu Q, tôi không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung, cho muợn nợ: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn ông T trình bày tại bản tự khai: về thời điểm vợ chồng chung sống và kết hôn tôi đồng ý như bà B đã khai. Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do tôi ham chơi cờ bạc đến năm 2018 vợ chồng sống ly thân, nay bà Ba xin ly hôn tôi không đồng ý.

Về con chung: có 01 con chung là Lê Đặng Ngọc Q, sinh ngày: 08/3/2012. Tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được nuôi cháu Q, tôi không yêu cầu bà B cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung, cho muợn nợ: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Riêng đối với bị đơn ông Lê Xuân T vi phạm pháp luật tố tụng dân sự; Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Đặng Thị B được ly hôn với ông Lê Xuân T; về con chung: Giao 01 con chung là Lê Đặng Ngọc Q, sinh ngày: 08/3/2012 cho bà B nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Ông Lê Xuân T không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà B không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Bị đơn ông Lê Xuân T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu, chứng cứ và hoà giải và đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt. theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung:

[2] Về quan hệ hôn nhân: bà Đặng Thị B và ông Lê Xuân T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2011 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Núi Thành, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Như vậy hôn nhân của bà B và ông T là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo bà B là do ông T ham chơi cờ bạc không lo làm ăn, thường xuyên đánh đập bà, bà và ông T đã sống ly thân và nhiều lần hàn gắn nhưng không được. Còn phần ông T cũng thừa nhận rằng trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do ông T chơi cờ bạc không lo làm ăn nhưng bà B xin ly hôn thì ông T không đồng ý. Hội đồng  xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà B và ông T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét chấp nhận cho bà Đặng Thị B được ly hôn với ông Lê Xuân T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Giữa bà B và ông T có 01 cháu là Lê Đặng Ngọc Q, sinh ngày: 08/3/2012. Bà B và ông T đều yêu cầu được nuôi cháu Q, không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Q là con gái và còn nhỏ cần bàn tay chăm sóc của người mẹ. Để đảm bảo sự phát triển ổn định bình thường về vật chất lẫn tinh thần cho cháu Q, xét giao cháu Q cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi trưởng thành, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà B không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

[4] Bà Đặng Thị B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị B về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” đối với bị đơn ông Lê Xuân T.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Đặng Thị B được ly hôn với ông Lê Xuân T.

- Về con chung: Giao con chung là Lê Đặng Ngọc Q, sinh ngày: 08/3/2012 cho bà Đặng Thị B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi trưởng thành. Ông Lê Xuân T không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà B không yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, một trong hai người có quyền yêu cầu thay đổi người trưc tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà Đặng Thị B phải chịu được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà B đã nộp tại Chi cục thi hành án Núi Thành theo biên lai thu số 0001827 ngày 01/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Núi thành.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.


70
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 150/2018/HNGĐ-ST ngày 05/06/2018 về ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:150/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Núi Thành - Quảng Nam
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về