Bản án 150/2017/HSST ngày 30/09/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN SỐ150/2017/HSST NGÀY 30/09/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 30 tháng 9 năm 2017, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 130/2017/HSST ngày 07 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị H1 - Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 28/10/1962, tại Quảng Ninh; Nơi ĐKNKTT: Phường T, thành phố P, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn Ng (đã chết) và bà: Mai Thị N, sinh năm 1937; Có chồng là anh Vũ Tiến V, sinh năm 1962, có hai con, con lớn sinh năm 1986, con nhỏ sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị bắt quả tang ngày 28/02/2017, hiện đang tại ngoại - có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Vũ Thị Ngọc L, sinh năm 1986: Trú tại: Phường B, thành phố P, Quảng Ninh- vắng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Thị H1 bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố về hành vi phạm tội như sau: Hồi 15 giờ 30 phút ngày 28/02/2017, tại tổ 1, khu 1B, phường Cẩm Trung, công an thành phố Cẩm Phả bắt quả tang Nguyễn Thị H1 có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Cao Xuân T. Vật chứng thu giữ của T 01 gói giấy vệ sinh bên trong có 01 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng; thu trên tay H 200.000 đồng, trong túi áo khoác 1.450.000 đồng và 01 điện thoại di động Samsung màu trắng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát 29M1-429.17.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của H1 tại tổ 1, khu 2A, phường Cẩm Trung thu giữ 01 điện thoại di động Samsung màu vàng; 01 ví màu đỏ bên trong có 01 gói giấy vệ sinh trong có 23 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng; 01 gói giấy báo chứa chất bột màu trắng; 01 gói giấy đỏ chứa chất bột màu trắng; 10 mảnh giấy bạc; 01 lưỡi dao tem.

Tại bản kết luận giám định số 171/GĐMT ngày 02/3/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất bột màu trắng trong 23 gói giấy bạc, 01 gói giấy báo, 01 gói giấy đỏ thu giữ tại nhà Nguyễn Thị H1 và 01 gói giấy bạc thu giữ của Cao Xuân T là chất ma túy, loại Heroin, trọng lượng lần lượt là 0,93 gam; 0,03 gam; 0,03 gam; 0,02gam. Hoàn lại 0,85 gam thu giữ của H1.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị H1 và Cao Xuân T đều khai: Khoảng 15 giờ ngày 28/02/2017, H1 đang ngồi tại quán nước trước cửa nhà, thì T đến hỏi mua 200.000 đồng ma túy. H1 đồng ý và bảo T đến khu vực trước cửa Ngân hàng Công Thương chờ. Sau đó H1 cầm 01 gói ma túy được gói lại bằng giấy vệ sinh rồi điều khiển xe mô tô Honda Wave RST biển kiểm soát 29M1-429.17 đến chỗ hẹn, bán cho T 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng thì bị Công an bắt quả tang.

Về nguồn gốc số ma túy bán cho T và 25 gói ma túy bị Công an thu giữ, H1 khai: Vào khoảng 15 giờ ngày 26/02/2017, tại quán nước trước cửa nhà, H1 mua 01 gói ma túy của một thanh niên không quen biết, với giá 1.000.000 đồng rồi vào nhà dùng dao tem chia thành 27 gói ma túy nhỏ để sử dụng và bán. H1 đã sử dụng hết 01 gói và bán cho T 01 gói.

Tại bản cáo trạng số 136/KSĐT-HS ngày 07 tháng 9 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố Nguyễn Thị H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo, nhưng cho rằng bị cáo phạm tội chưa đạt nên đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 2 điều 194; điểm p khoản 1 điều 46; Điều 18; Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo H1 từ 05 năm tù đến 05 năm 06 tháng tù; Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo H1 khai nhận về việc mình bán ma túy cho T 1 lần. H1 đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác...

XÉT THẤY

Tại phiên tòa, Nguyễn Thị H1 khai báo có nội dung: Ngày 26/02/2017 H1 mua 1.000.000 đồng tiền ma túy heroin của một thanh niên không quen biết, mang về nhà dùng dao tem chia thành 27 gói để sử dụng và bán. H1 đã sử dụng hết 01 gói. Ngày 28/02/2017 H1 bán cho T 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng thì bị bắt quả tang. Số ma túy còn lại đã bị thu giữ khi khám xét nhà.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của Cao Xuân T là người trực tiếp mua ma túy của bị cáo về về thời gian, địa điểm, cách thức giao dịch cũng như số tiền mua ma túy; phù hợp lời khai của anh Lê Văn K, anh Vũ Đình H2 là người chứng kiến việc H1 và T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị công an kiểm tra bắt giữ; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét; biên bản niêm phong vật chứng; phù hợp với kết luận giám định số 171/GĐMT ngày 02/3/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.

Đánh giá các chứng cứ nêu trên, kết hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thấy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 30 phút ngày 28/02/2017, tại tổ 1, khu 1B, phường Cẩm Trung, thành phố Cẩm Phả, Nguyễn Thị H1 có hành vi bán trái phép 0,02 gam chất ma túy, loại Heroin cho Cao Xuân T, với giá 200.000 đồng để T sử dụng, thì bị Công an bắt quả tang. Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà H1 còn thu giữ 0,99 gam chất ma túy, loại Heroin, mục đích để sử dụng và bán.

Hành vi nêu trên của bị cáo H1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội danh.

Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả cho rằng: Ngoài hành vi bán ma túy cho T bị bắt quả tang, H1 còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,99 gam chất ma túy heroin, mục đích để bán, nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung “phạm tội nhiều lần” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự là không có căn cứ, bởi lẽ:

Theo hướng dẫn tại tiểu mục 2.3, mục 2, phần I Thông tư liên tịch số 17 ngày 24/12/2007 của Bộ công an- Viện kiểm sát nhân dân Tối cao- Tòa án nhân dân Tối cao- Bộ tư pháp thì:

Tình tiết “Phạm tội nhiều lần”quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự được hiểu là đã có từ hai lần phạm tội trở lên (hai lần bán trái phép chất ma túy trở lên…) mà mỗi lần phạm tội có đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 điều luật tương ứng, đồng thời trong số các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối chiếu với hành vi phạm tội của bị cáo H1 thấy rằng, ngay từ ban đầu bị cáo H1 đã có mục đích mua 1.000.000 đồng tiền ma túy để sử dụng và bán. Thực tế H1 đã sử dụng 01 gói và mới bán 01 gói thì bị bắt quả tang, trước đó H1 chưa từng bán ma túy lần nào. Vì vậy, đủ căn cứ xác định đây là lần đầu tiên H1 bán ma túy.

Việc khám xét khẩn cấp chỗ ở được tiến hành ngay sau khi bắt quả tang H1 bán trái phép chất ma túy cho T. Vì vậy số ma túy 0,99 gam heroin bị thu giữ khi khám xét nhà bị cáo là vật chứng có liên quan đến việc phạm tội quả tang nêu trên. Do số ma túy này khi cộng dồn với số ma túy H1 đã bán cho T không đủ lượng để truy tố H1 theo điểm h khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự nên chỉ có ý nghĩa xem xét khi quyết định hình phạt theo khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự, chứ không thể coi đây cũng là một lần phạm tội mua bán ma túy độc lập với lần bị bắt quả tang để truy tố bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự như quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả được.

Căn cứ vào giới hạn của việc xét xử quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự, thấy có đủ cơ sở để xét xử bị cáo H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự. Hành vi đó đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác đang là nhức nhối trong xã hội hiện nay. Hành vi của bị cáo không những gây mất an ninh trật tự của địa phương mà còn tiếp tay cho những kẻ buôn bán ma túy khác. Do đó cần có mức án nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và đấu tranh phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng xem xét cho bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thái độ khai báo thành khẩn, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

- Đối với số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 1.650.000 đồng thu giữ của H1, trong đó có 200.000 đồng là tiền do bán ma túy cho T mà có nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Số tiền còn lại không chứng minh được liên quan đến việc phạm tội nên trả lại bị cáo.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng thu giữ của bị cáo H1 không chứng minh được liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho H1.

- 01 ví màu đỏ; 01 dao tem; 10 mảnh giấy bạc không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 29M1- 429.17 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng, quá trình điều tra xác định đây là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Vũ Thị Ngọc L (con gái H1), không liên quan đến việc phạm tội, cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Cẩm Phả đã trả lại cho chị Liễu nên không đề cập giải quyết.

Đối với Cao Xuân T có hành vi mua trái phép chất ma túy để sử dụng, nhưng trọng lượng ma túy chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố Cẩm Phả đã ra Quyết định xử phạt hành chính.

Đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Thị H1 không có tên, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở làm rõ.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 điều 194; Điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H1 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tính từ ngày đi thi hành án.

Áp dụng: Điểm b, c khoản 1; khoản 2 điều 41 Bộ luật hình sự; Điểm a, b, c, đ khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy hoàn lại sau giám định có trong 01(một) phong bì còn nguyên dấu niêm phong số 171/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một) ví màu đỏ; 01(một) dao tem; 10 (mười) mảnh giấy bạc.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) do H1 bán ma túy cho T mà có.

- Trả lại bị cáo Nguyễn Thị H1 1.450.000đ (một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng kèm 01 sim, 01 pin.

Các khoản trên theo biên bản giao nhận vật chứng số 132/BB-THA ngày 11 tháng 7 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả;

Căn cứ khoản 2, điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Nguyễn Thị H1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, báo cho biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Vũ Thị Ngọc L, báo cho biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.


83
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về