Bản án 150/2017/HSST ngày 25/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN - TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 150/2017/HSST NGÀY 25/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 25 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 147/2017/HSST ngày 05 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Nông Văn L, sinh ngày 26/4/1994 tại huyện T, Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; con ông Nông Văn H, sinh năm 1968 và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1974; hiện nay đều trú tại thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2017 cho đến nay; có mặt

NHẬN THẤY

Bị cáo Nông Văn L bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 11 giờ 35 phút ngày 08/6/2017, tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường N, phường Đ, thành phố Lạng Sơn đã phát hiện bắt quả tang Nông Văn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm 01 ống xi lanh bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 ống novocain.

Tại bản kết luận giám định số 232/KL-PC54 ngày 12/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết Luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroine, có trọng lượng 0,115 gam (đã trừ bì).

Cáo trạng số 153/KSĐT ngày 01/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nông Văn L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn L thừa nhận: Bị cáo nghiện ma túy từ năm 2014 nên thường đi mua ma túy để sử dụng. Ngày 07/6/2017 bị cáo đi xuống nhà chị gái ở thành phố Lạng Sơn chơi. Khoảng 11 giờ ngày 08/6/2017, bị cáo đi ra cổng sau chợ Đ, đường N, phường Đ, thành phố L để tìm mua ma túy. Tại đây, bị cáo đã mua được 01 gói ma túy Heroine với giá 100.000 đồng với một nam thanh niên không quen biết. Sau khi mua được ma túy, bị cáo đi đến hiệu thuốc gần đó mua xi lanh và nước cất, rồi bắt xe ôm đến khu vực sau nhà số 98 đường N, phường Đ, thành phố L để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi bị cáo vừa đổ ma túy vào ống xi lanh thì bị tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn phát hiện bắt giữ. Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên nội dung quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Đề nghị áp dụng theo khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 của Bộ luật hình sự 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14; theo khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nông Văn L từ 15 tháng đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo đã là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản. Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 41 của Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng mẫu vật sau giám định; tiêu hủy 01 lọ nước cất hiệu NOVOCAIN. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo Nông Văn L tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà.

Như vậy, với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, qua kết quả giám định, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nông Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố bị cáo Nông Văn L là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Ma túy không chỉ là chất gây nghiện, có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, tiêu tốn về kinh tế mà còn là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội trên cơ sở đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 quy định việc thực hiện khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 quy định: Các điều khoản của Bộ luật hình sự 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn… và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng những quy định có lợi khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Xét về nhân thân: Ngày 23/4/2012 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 24 tháng tù về tội cố ý gây thương tích, đến nay bị cáo được đương nhiên xóa án tích nhưng điều này thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu. Vì vậy, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định là cần thiết, có như vậy mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Do bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập và tài sản nên việc áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo không có tính khả thi. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định bên trong đựng 01 ống xi lanh bằng nhựa trong có đựng chất giám định và 01 lọ nước cất hiệu Novocain cần được tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, phù hợp với pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử. Đối với người nam thanh niên bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết danh tính nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố:  Bị cáo Nông Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2.Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 và Khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14. Xử phạt bị cáo Nông Văn L 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 08/6/2017.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định, bên trong đựng 01 ống xi lanh bằng nhựa trong có đựng chất giám định; 01 lọ nước cất hiệu NOVOCAIN. (Vật chứng nói trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, có đặc điểm như được mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/08/2017 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Lạng Sơn).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nông Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự .


137
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về