Bản án 14/HNGĐ-ST ngày 16/04/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 14/HNGĐ-ST NGÀY 16/04/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 16 tháng 4 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 563/2018/TLST-HNGĐ ngày 28/12/2018 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2019/QĐXX-ST ngày 12/03/2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 03/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29/03/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Võ Thị Hồng Phượng - SN: 1978 (có mặt)

2.Bị đơn: Ông Trương Tuấn Bảo - SN: 1975 (vắng mặt không có lý do)

Cùng địa chỉ nơi cư trú: Ấp 3, xã Tiến Hưng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/08/2018, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Võ Thị Hồng Phượng trình bày:

Bà Phượng và ông Bảo tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và về chung sống với nhau từ năm 2004, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật ngày 28/09/2004 tại Uỷ ban nhân dân xã Tiến Hưng, thị xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đồng Xoài), tỉnh Bình Phước. Thời gian chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 02/2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, lý do là ông Bảo không còn tình cảm với bà Phượng ra ngoài sống chung với một người phụ nữ khác khoảng 01 năm nay, thỉnh thoảng mới về thăm con dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vã, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Gia đình hai bên đã biết và khuyên bảo, bà Phượng cũng tha thứ khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả, ông Bảo sống chung với người phụ nữ khác nhưng bà không báo chính quyền địa phương vì muốn giữ thể diện cho ông Bảo. Hiện nay, bà Phượng và ông Bảo không còn sống chung với nhau từ năm 2018. Nay bà Phượng xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên yêu cầu ly hôn với ông Bảo để ổn định cuộc sống. Việc ly hôn bà Phượng đã thông báo cho ông Bảo biết nhưng ông Bảo nói không lên giải quyết.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình chung sống bà Phượng và ông Bảo có 01 con chung Trương Uyên Phương, sinh ngày 11/04/2005. Bà Phượng yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung, vay nợ và cho vay: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trương Tuấn Bảo vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã tuân thủ các quy định của thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn có mặt đúng quy định của pháp luật. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng không thực hiện theo quy định tại điều 70, 72, 228 của BLTTDS. Về nội dung vụ án: Cuộc sống chung của sống bà Phượng và ông Bảo có mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án thì yêu cầu về ly hôn của sống bà Phượng có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp về ly hôn” do bà Võ Thị Hồng Phượng khởi kiện. Bị đơn Trương Tuấn Bảo cư trú tại Ấp 3, xã Tiến Hưng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2].Về sự vắng mặt của bị đơn ông Trương Tuấn Bảo trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các thủ tục tố tụng nhưng ông Bảo vẫn vắng mặt không có lý do. Việc ông Bảo không đến Tòa để tham gia tố tụng là đương nhiên từ bỏ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án thành phố Đồng Xoài tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[3].Nội dung vụ án:

[3.1].Về quan hệ hôn nhân: Bà Phượng và ông Bảo tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và về chung sống với nhau từ năm 2004, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật ngày 28/09/2004 tại Uỷ ban nhân dân xã Tiến Hưng, thị xã Đồng Xoài (nay là thành phố đồng Xoài), tỉnh Bình Phước, vào sổ đăng ký kết hôn số 16/2004, quyển số 01 ngày 28/09/2004 .Căn cứ điều 8 và điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp. Do vậy bà Phượng có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông Bảo là có căn cứ.

Xét tình trạng hôn nhân của bà Phượng và ông Bảo: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện cho hai bên có cơ hội hàn gắn tình cảm, quay về đoàn tụ chung sống với nhau nhưng tại phiên tòa hôm nay bà Phượng vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Bảo. Vì bà cho rằng cuộc sống chung không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn ông Bảo không còn yêu thương bà nữa, đã ra ngoài sống chung với người phụ nữa khác khoảng 01 năm nay, hai người không còn tình cảm với nhau nên không thể tiếp tục cuộc hôn nhân, bà yêu cầu ly hôn với ông Bảo. Đối với bị đơn ông Trương Tuấn Bảo trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, bà Phượng cũng thông báo việc ly hôn cho ông nên ông Bảo biết được bà Phượng nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn. Hơn nữa, Tòa án nhiều lần tạo điều kiện cho hai bên hòa giải với nhau để hàn gắn gia đình nhưng ông Bảo vẫn không đến Tòa án làm việc và thể hiện ý chí nguyện vọng đoàn tụ cũng như đảm bảo quyền lợi ích chính đáng của mình. Do vậy, căn cứ vào những tài liệu-chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xem xét. Xét thấy, hôn nhân hạnh phúc được xây dựng trên sự tự nguyện yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau và cùng có trách nhiệm chung với gia đình, nhưng trong cuộc sống chung của bà Phượng và ông Bảo có những mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, cuộc sống chung không thể tiếp tục kéo dài vì mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phượng.

[3.2].Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Phượng và ông Bảo có 01 con chung Trương Uyên Phương, sinh ngày 11/04/2005. Bà Phượng yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con. Xét thấy, cháu Phương cháu có nguyện vọng được ở với mẹ, hơn nữa cháu là con gái đang trong tuổi trưởng thành cần có sự quan tâm chăm sóc, dạy giỗ về mọi mặt của người mẹ, ông Bảo cũng không có ý kiến gì về việc nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Phượng, giao cháu Phương cho bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.

Bà Phượng không yêu cầu ông Bảo cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3.3].Về tài sản chung, cho vay và nợ chung: Bà Phượng không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4].Án phí sơ thẩm: Bà Phượng phải chịu theo quy định của pháp luật.

[5].Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 9, Điều 51 và Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Xử:

[1].Về hôn nhân: Cho bà Võ Thị Hồng Phượng được ly hôn với ông Trương Tuấn Bảo (Giấy chứng nhận kết hôn số 16/2004, quyển số 16 ngày 28/9/2004 của Ủy ban nhân dân xã Tiến Hưng, thị xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đồng Xoài), tỉnh Bình Phước cấp).

[2].Về nuôi con chung: Giao con Trương Uyên Phương, sinh ngày 11/04/2005, cho bà Phượng trực tiếp trôm nom, chăm sóc và nuôi dưỡng;

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi của con.

[3].Về chia tài sản, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4].Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Phượng phải nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000813 ngày 28/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài.

[5].Quyền kháng cáo: Bà Phượng có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Ông Bảo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.


68
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/HNGĐ-ST ngày 16/04/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:14/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Đồng Xoài - Bình Phước
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về