Bản án 148/2019/HNGĐ-ST ngày 16/07/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 148/2019/HNGĐ-ST NGÀY 16/07/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 16/7/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 450/2019/TLST-HNGĐ ngày 06/5/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/5/2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 97/QĐST-HNGĐ ngày 19/6/2019, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1989.

2. Bị đơn: Ông Hoàng Phan Huy V, sinh năm 1979.

Cùng địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.

(Bà N có mặt, ông V vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn ngày 04/5/2019 và quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Hồng N, trình bày:

Bà và ông Hoàng Phan Huy V chung sống với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn cùng năm 2008 tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng cuối năm 2013 thì ông V bỏ nhà ra đi đến nay không có tin tức gì. Bà đã làm thủ tục yêu cầu giải quyết việc dân sự và Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa đã tuyên bố ông V mất tích kể từ ngày 02/01/2016 cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin ly hôn.

Về con chung: Bà N khai bà và ông V có 02 con chung là các cháu Hoàng Kim N, sinh năm 2009 và Hoàng Thu Ng, sinh năm 2013; hiện con đang sống với bà. Khi ly hôn, bà N xin được quyền tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông V cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà N khai không có.

Đối với ông Hoàng Phan Huy V, từ khi Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án cho đến nay đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông V vắng mặt, không có ý kiến gì phản hồi yêu cầu khởi kiện của bà N.

Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ do nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải.

Tại phiên tòa, bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không bổ sung ý kiến gì thêm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai công khai tại phiên toà, trên cơ sở trình bày của đương sự, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Thị Hồng N xin ly hôn với ông Hoàng Phan Huy V. Ông V có nơi cư trú cuối cùng là ấp Sò Đo, thị trấn Hậu Nghĩa, Đức Hòa, Long An. Theo quy định tại các điều 28, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ông Hoàng Phan Huy V vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục chung là đúng với quy định các điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân,

Bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Hoàng Phan Huy V chung sống với nhau vào năm 2008 và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với Điều 09, Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Trước tòa, bà N cương quyết xin ly hôn vì cho rằng mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn.

Đối với ông Hoàng Phan Huy V, từ Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông V vẫn vắng mặt, không có ý kiến gì phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà N. Tại phiên tòa, ông V vẫn vắng mặt, điều này chứng tỏ cả hai bên cũng không có thiện chí để hàn gắn, đoàn tụ.

Nhận thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà N và ông V không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N xin ly hôn là có căn cứ phù hợp với khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2]. Về con chung: Bà N khai bà và ông V có 02 con chung là các cháu Hoàng Kim N, sinh năm 2009 và Hoàng Thu Ng, sinh năm 2013; hiện con đang sống với bà. Khi ly hôn, bà N xin được quyền tiếp tục nuôi con. Theo như bà N trình bày thì từ thời điểm ông V bỏ nhà đi từ năm 2013 cho đến nay thì bà là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử giao con chung cho bà N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.3] Về cấp dưỡng: Bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà N khai không có. Ông Hoàng Phan Huy V vắng mặt, không có ý kiến phản hồi về việc quá trình sống chung giữa ông và bà N có tài sản chung hoặc có nợ chung hay không nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp ông V có phát sinh tranh chấp về tài sản trong thời kỳ hôn nhân thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác nếu có căn cứ.

[3.] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng N phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước là đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 63, 147, 222, 227, 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 107, 110 và 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với ông Hoàng Phan Huy V.

2. Về con chung:

Bà Nguyễn Thị Hồng N được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Hoàng Kim N, sinh ngày 30/7/2009 và Hoàng Thu Ng, sinh ngày 31/10/2013.

Ông Hoàng Phan Huy V không phải cấp dưỡng nuôi con vì bà Nguyễn Thị Hồng N không yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức hoặc cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước nhưng được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004589 ngày 04/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, sang án phí để thi hành.

4. Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.


51
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 148/2019/HNGĐ-ST ngày 16/07/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:148/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:16/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về