Bản án 146/2018/HS-ST ngày 23/08/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 146/2018/HS-ST NGÀY 23/08/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 126/2018/TLST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Quang M; sinh năm 1984 tại An Giang; nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Làm công; trình độ văn hóa (học vấn: 8/12); dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Lạc Kim H; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không;

Tiền án:

- Ngày 25/9/2004, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số: 102/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/10/2007. Đối với trách nhiệm dân sự, án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm thì cơ quan có thẩm quyền không thụ lý thi hành đối với bản án này.

- Ngày 10/7/2009, Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số: 126/2009HSST). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2017 nhưng chưa thi hành các khoản án phí, phạt bổ sung và nộp tiền thu lợi bất chính.

Bị bắt, tạm giam từ ngày 19/12/2017 đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Trần Phú V, sinh năm 1985; nơi cư trú: 177/38A B, Phường S, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

2. Chị Trần Thị Hương D, sinh năm 1982; nơi cư trú: 331/9 N, Phường D, Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 50 phút ngày 19/12/2017, tại trước nhà số 351 T, Phường AS, Quận B, đội Cảnh sát phản ứng nhanh số 2 - Công an Thành phố Hồ Chí Minh nghi vấn Nguyễn Quang M đang điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 59K1-221.80, chở Trần Phú V có liên quan đến ma túy, nên yêu cầu M dừng xe kiểm tra thì phát hiện, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của M 02 gói nylon hàn kín chứa ma túy; thu giữ trên tay trái của V 01 gói giấy bạc bên trong chứa ma túy. Tạm giữ của V 01 xe gắn máy biển số 59K1-221.80, 01 con dao bấm màu đen, 01 ống kim tiêm. Vụ việc được đưa về trụ sở Công an Phường 12, Quận 8 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Sau đó, chuyển giao hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 để điều tra làm rõ.

Theo Kết luận giám định số 165/KLGĐ-H ngày 29/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

Gói 1: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Quang M và hình dấu Công an Phường 12, Quận 8 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,9616g (hai phẩy chín sáu một sáu gam), loại Methamphetamine.

Gói 2: Bột màu trắng trong 01 gói giấy bạc được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Phú V và hình dấu Công an Phường 12, Quận 8 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0371g (không phẩy không ba bảy một gam), loại Heroine.

Quá trình điều tra, Nguyễn Quang M khai nhận: M và V có mối quan hệ bạn bè. Bản thân M nghiện ma túy tổng hợp, để có ma túy sử dụng, vào khoảng 17 giờ ngày 19/12/2017, M thuê xe honda ôm (không rõ lai lịch người lái xe ôm) đến khu vực đường C, Phường AS, Quận B mua 02 gói ma túy tổng hợp của người thanh niên tên T (không rõ lai lịch) với giá 600.000 đồng, M bỏ ma túy vào trong túi quần phía trước bên phải rồi đón xe honda ôm đến nhà số 177/38A B, Phường S, Quận B gặp V. Tại đây, M nhờ V chở về huyện Bình Chánh, V đồng ý. V đưa xe gắn máy biển số 59K1-221.80 cho M điều khiển chở V ngồi sau. Đến khoảng 20 giờ 50 phút ngày 19/12/2017, khi M điều khiển xe chở V đến trước số 351 T, Phường AS, Quận B thì bị đội Cảnh sát phản ứng nhanh số 2 - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra, bắt quả tang như trên.

Trần Phú V khai nhận: Bản thân nghiện heroine, vào khoảng 18 giờ ngày 19/12/2017, V điều khiển xe gắn máy biển số 59K1-221.80 đến khu vực đường C, Phường AS Quận B mua 01 gói heroine của người thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 50.000 đồng, V cầm gói ma túy trên tay trái và điều khiển xe về nhà mình tại số 177/38A B, Phường S, Quận B thì gặp bạn là Nguyễn Quang M. M nhờ và được V đồng ý đưa xe gắn máy biển số 59K1- 221.80 cho M chở. Khi M điều khiển xe chở V đến trước số 351 T, Phường AS, Quận B thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang như trên.

Vinh không biết và cũng không có liên quan gì đến 02 gói ma túy mà Công an thu giữ của M. Đồng thời, M không biết và cũng không có liên quan gì đến 01 gói ma túy thu giữ của Vinh.

Vật chứng vụ án:

- 02 (hai) gói niêm phong bên ngoài ghi số 165/18 gói 1 và 165/18 gói 2.

- 01 (một) ống kim tiêm.

- 01 (một) con dao bấm màu đen.

- 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 59K1-221.80, số khung: Y-018023, số máy: E-0018136.

Tại bản cáo trạng số 134/CT-VKSQ8 ngày 15/6/2018 Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Quang M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quang M khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, xác định vào khoảng 20 giờ 50 phút ngày 19/12/2017, tại trước nhà số 351 T, Phường AS, Quận B, Nguyễn Quang M có hành vi cất giữ ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,9616g (hai phẩy chín sáu một sáu gam), loại Methamphetamine, mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Quang M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng thu giữ: số ma túy thu giữ của bị cáo; 01 (một) ống kim tiêm và 01 (một) con dao bấm màu đen đề nghị tịch thu, tiêu hủy; 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 59K1-221.80, số khung: Y-018023, số máy: E-0018136, do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên đề nghị tiếp tục đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 19/12/2017, tại trước nhà số 351 T, Phường AS, Quận B, Nguyễn Quang M có hành vi cất giữ ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,9616g (hai phẩy chín sáu một sáu gam), loại Methamphetamine, mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2004 bị Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; năm 2009, bị Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

[3] Tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhẹ hơn so với mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009), là quy định có lợi cho người phạm tội. Do đó, mặc dù bị cáo phạm tội trước thời điểm Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực, nhưng theo quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự, trường hợp này, Hội đồng xét xử vẫn áp dụng Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xét xử đối với bị cáo. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở xác định hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: "''Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn, hành vi không nhằm mục đích thu lợi, vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án, quá trình điều tra thu giữ số ma túy trong 02 (hai) gói niêm phong bên ngoài ghi số 165/18 gói 1 và 165/18 gói 2, xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

[7] - 01 (một) ống kim tiêm và 01 (một) con dao bấm màu đen, xét không có giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

[8] - 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 59K1-221.80, số khung: Y- 018023, số máy: E-0018136. Qua xác minh do chị Nguyễn Thị Minh T đứng tên chủ sở hữu. Chị T đã bán xe cho chị Trần Thị Thu H, nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Chị Trần Thị Hương D (chị ruột của V) khai xe do chị mua lại từ chị H. Tuy nhiên, chị D không đưa ra được chứng cứ chứng minh việc mình mua lại chiếc xe trên từ chị H, đồng thời chị H hiện vắng mặt tại nơi cư trú. Xét, cần tiếp tục tạm giữ và đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu chiếc xe trên trong thời hạn 01 năm, nếu hết thời hạn mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[9] Đối với Trần Phú V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng do chưa đủ khối lượng và căn cứ để xử lý hình sự, nên Công an Phường 12, Quận 8 đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp quy định pháp luật.

[10] Đối với người thanh niên tên T bán ma túy cho M, do không xác định được lai lịch địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 chưa có căn cứ xử lý.

[11] Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang M 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2017.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

- Số ma túy trong 02 (hai) gói niêm phong bên ngoài ghi số 165/18 gói 1 và 165/18 gói 2.

- 01 (một) ống kim tiêm và 01 (một) con dao bấm màu đen.

- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tiếp tục đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 năm để tìm chủ sở hữu 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 59K1-221.80, số khung: Y- 018023, số máy: E-0018136, nếu hết thời hạn trên không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

 (Tất cả theo Phiếu nhập kho vật chứng số 158/PNK ngày 17/7/2018).

- Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Quang M nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


52
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về