Bản án 146/2017/HSST ngày 19/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 146/2017/HSST NGÀY 19/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 19 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 148/2017/TL-HSST ngày 25 tháng 8 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2017/QĐXX-ST ngày 06 tháng 9 năm 2017, đối với bị cáo:

Đỗ Văn V, sinh ngày 01 tháng 4 năm 1983 tại V; Nơi cư trú: thôn P, xã L, huyện L, tỉnh V; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hóa: 3/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đỗ Quang T, sinh năm 1957 và bà Bùi Thị Đ, sinh năm 1959; Gia đình có 3 anh em, V là con thứ 1; Có vợ là Lê Thị Đ, sinh năm 1984, đã ly hôn; Có 2 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2006; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 04 tháng 6 năm 2017 đến ngày 07 tháng 6 năm 2017 chuyển tạm giam cho đến nay; (Có mặt)

- Người làm chứng:

1. Anh Lương Hải T, sinh năm 1982; Địa chỉ: thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)

2. Anh Trịnh Quốc T1, sinh năm 1986; Địa chỉ: số nhà 37, tổ 31, phường K, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ 30 phút, ngày 04 tháng 6 năm 2017, Đỗ Văn V đi bộ đến khu vực đường P thuộc tổ 37A, phường K, thành phố Thái Bình gặp và mua của một người nam giới khoảng 30 tuổi, không biết tên, tuổi, địa chỉ 200.000 đồng được 01 gói ma túy, mục đích để sử dụng cho bản thân. Mua xong, V cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái đi đến khu vực ngã ba L – P thuộc tổ 22, phường Q, thành phố Thái Bình thì bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình phát hiện có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Lương Hải T và anh Trịnh Quốc T1, Đỗ Văn V tự giác đưa từ lòng bàn tay trái ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy  trắng dạng giấy vệ sinh, bên trong được gói bằng giấy bạc màu trắng, trong cùng có chứa chất bột màu trắng dạng cục, V khai đó là Hêrôin, V mua mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng gửi giám định. Ngoài ra, tổ công tác còn quản lý của Đỗ Văn V 01 điện thoại di động Iphone màu vàng đã bị  hỏng, 01 ví giả da màu nâu, 01 giấy phép lái xe mang tên Đỗ Văn V và số tiền 1.300.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 200/KLGĐ-PC54 ngày 04 tháng 6 năm 2017, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định thu của Đỗ Văn V là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có trọng lượng 0,3339 gam (không phẩy ba nghìn ba trăm ba mươi chín gam).

Cáo trạng số 156/KSĐT ngày 24 tháng 8 năm 2017 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Đỗ Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Đỗ Văn V khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Đỗ Văn V mức án từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04 tháng 6 năm 2017.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Đỗ Văn V hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 200/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái  Bình; trả lại Đỗ Văn V 01 điện thoại di động Iphone màu vàng (đã hỏng), 01 ví giả da màu nâu, 01 giấy phép lái xe mang tên Đỗ Văn V và số tiền 1.300.000 đồng.

Bị cáo Đỗ Văn V đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Đỗ Văn V nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình, trở thành người công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ ã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Do bản thân nghiện ma túy, ngày 04 tháng 6 năm 2017, Đỗ Văn V đã gặp và mua của một người nam giới không quen biết 01 gói ma túy, loại Hêrôin, có trọng lượng 0,3339 gam, với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng, bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự thì “Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”. Hành vi của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của Đỗ Văn V là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, ma túy không những gây tác hại cho sức khỏe, phá hoại hạnh phúc của bao gia đình mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

Hành vi của Đỗ Văn V đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 còn quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, không vì mục đích vụ lợi. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đỗ Văn V không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.

So sánh quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì mức hình phạt tù từ hai năm đến bẩy năm, cao hơn so với mức hình phạt tù từ một năm đến năm năm quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015. Căn cứ vào những quy định có lợi cho người phạm tội, theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội, khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, và căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử cần quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra, để cải tạo giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung, nhất là trong bối cảnh hiện nay tội phạm ma túy có chiều hướng gia tăng và ngày càng phức tạp.

[4] Về xử lý vật chứng và về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy, Đỗ Văn V khai mua của một người nam giới không quen biết tại khu vực tổ 37A, phường K, thành phố Thái Bình nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Số ma túy thu giữ trong vụ án còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone màu vàng (đã hỏng), 01 ví giả da màu nâu, 01 giấy phép lái xe mang tên Đỗ Văn V và số tiền 1.300.000 đồng quản lý của Đỗ Văn V. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó cần trả lại cho bị cáo.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2009); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 6 năm 2017.

3. Về xử lý vật chứng:  Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

3.1 Xử tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Đỗ Văn V còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 200/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái  Bình.

3.2 Xử trả lại bị cáo Đỗ Văn V 01 điện thoại di động Iphone màu vàng (đã hỏng), 01 ví giả da màu nâu, 01 giấy phép lái xe mang tên Đỗ Văn V và số tiền 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm ngàn đồng).

(Toàn bộ vật chứng trên đã chuyển cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 25 tháng 8 năm 2017)

4. Về án phí:  Áp dụng Điều 98, 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đỗ Văn V phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Văn V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày 19 tháng 9 năm 2017.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


132
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về