Bản án 145/2020/HSST ngày 04/09/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 145/2020/HSST NGÀY 04/09/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 04 tháng 09 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 125/2020/HSST ngày 16 tháng 07 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 08 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2020/QĐST-HS ngày 17 tháng 08 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Đỗ Ngọc V(tên gọi khác: V), sinh ngày 01-08-1991 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; giới tính: Nam; nơi đăng ký HKTT : Thôn X, xã Y, thị xã Z, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi ở: Thôn X1, xã Y, thị xã Z, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Ngọc Tr (chết) và bà Nguyễn Thị Ph; Tiền sự - Tiền án: không; bị bắt ngày 20 tháng 03 năm 2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( bị cáo có mặt).

2. Huỳnh Thị Diệu H, sinh ngày 14-04-2001 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; giới tính: Nữ; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Thôn X, xã Y, thị xã Z, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Trường H và bà Ngô Thị Ph; Tiền sự - Tiền án: không; có hai con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh ngày 26-07-2020; biện pháp ngăn chặn: Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 38 ngày 23-03-2020 ( bị cáo tại ngoại - có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Trương Văn B, sinh ngày 04-06-2006 - Người đại diện theo pháp luật: Trương Văn Đ, sinh năm 1981 và Huỳnh Mỹ L, sinh năm 1983 - Cùng cư trú: Thôn X, xã Y, thị xã Z, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt).

2. Lê Anh V, sinh năm 1999; nơi cư trú: Khu phố X2, phường Y2, thị xã Z, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( vắng mặt).

Người làm chứng: Phạm Công Ph, nơi cư trú: Thôn X, xã Y, thị xã Z, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Ngọc V, Huỳnh Thị Diệu H và Trương Văn B có mối quan hệ bạn bè với nhau. Sáng ngày 20-03-2020, H và B đến phòng trọ của V tại thôn Phước Long, xã Tân Hòa, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để chơi. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên V đưa cho H số tiền 500.000đ và xe mô tô biển số 72E1- 451.83 để B chở H đi mua ma túy về cùng sử dụng.

B chở H đến khu vực ngã ba nhà thờ Láng Cát, thuộc thôn Láng Cát, xã Tân Hòa, thị xã Phú Mỹ mua một gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 450.000 đ của một người đàn ông tên V (không xác định được nhân thân). B và H quay về phòng trọ đưa gói ma túy và số tiền 50.000đ cho V. V lấy một ít ma túy tổng hợp trong gói ra cùng với H và B sử dụng chung, số ma túy còn lại V cất giấu. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, các cơ quan chức năng kiểm tra phát hiện bắt quả tang V đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Thu giữ vật chứng gồm: 01 gói nylon hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Newsday màu xanh đen; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xám (màn hình bị bể); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh có ống hút nhựa; 01 xe mô tô biển số 72E1-451.83 và số tiền 50.000đ.

Bản kết luận giám định số 163/GĐMT-PC09 (Đ2) ngày 31-03-2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu, trong suốt chứa trong 01 gói nylon hàn kín, niêm phong trong phong bì màu trắng, gửi đến giám định có khối lượng 0,3168 gam, là ma túy loại Methamphetamie.

Đối tượng tên V liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau theo quy định pháp luật.

Trương Văn B, sinh ngày 04-06-2006, đến ngày 20-03-2020 chưa đủ 14 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm hành chính nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Bản cáo trạng số 135/CT-VKS ngày 13-07-2020, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố Đỗ Ngọc Vvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm đ khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; truy tố Huỳnh Thị Diệu H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi các bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 249, điểm n, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo V mức án từ 05 năm đến 06 năm tù giam, xử phạt bị cáo H mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; các bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thị xã Phú Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo V xác định bị bắt quả tang khi đang tàng trữ một gói ma túy tổng hợp có khối lượng 0,3168 gam loại Methamphetamine. Gói ma túy này là của bị cáo V đã đưa tiền cho bị cáo H đi mua, đồng thời bị cáo V giao xe mô tô biển số 72E1-451.38 cho Trương Văn B sử dụng để chở bị cáo H đi mua ma túy của người đàn ông tên V (không xác định được nhân thân) vào sáng ngày 20-03-2020 tại khu vực ngã ba nhà thờ Láng Cát, thuộc thôn Láng Cát, xã Tân Hòa, thị xã Phú Mỹ với giá 450.000 đ, mục đích để sử dụng. Bị cáo H cũng xác định đã thực hiện hành vi giúp sức mua trái phép chất ma túy cho V để được V cho sử dụng ma túy.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các đương sự khác, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra lại tại phiên tòa.

Xét bị cáo V đã sử dụng Trương Văn B ( sinh ngày 04-06-2006, tại thời điểm ngày 20-03-2020 chưa đủ 16 tuổi) giúp sức trong việc sử dụng phương tiện chở bị cáo H đi mua ma túy về để cùng sử dụng. Vì vậy, hành vi bị cáo V thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét bị cáo H đã thực hiện hành vi giúp sức mua trái phép 0,3168 gam ma túy loại Methamphetamine cho V với vai trò đồng phạm để được V cho ma túy sử dụng. Vì vậy, hành vi bị cáo H thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xét các bị cáo mặc dù có thống nhất trước việc thực hiện hành vi phạm tội, nhưng sự cấu kết chưa đến mức chặt chẽ, nên hành vi phạm tội các bị cáo thực hiện chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn. Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[3]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội các bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác; ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm theo quy định pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại thời điểm phạm tội bị cáo H đang có thai ( sinh con ngày 26-07-2020), nên xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.

[5]. Về xử lý vật chứng:

- 01 gói ma túy niêm phong số 163 ngày 31-03-2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là chất nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, các bị cáo sử dụng làm công cụ sử dụng ma túy, cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 điện thoại di động màu xanh-đen có dòng chữ Newsday (máy đã cũ, không hoạt động); 01 điện thoại di động màu xám hiệu Nokia 1280 ( máy đã cũ, bể màn hình, không hoạt động) là tài sản hợp pháp của bị cáo V, không sử dụng làm phương tiện liên lạc để phạm tội, nên trả lại bị cáo V;

- Số tiền 50.000 đồng là tài sản hợp pháp của bị cáo V, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo V;

- Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển số 72E1-451.38, số máy 5C6J208302, số khung RLCS5C6JOGY208303 ( xe đã cũ và hư hỏng) là tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của anh Lê Anh V ( bạn bị cáo), anh V không biết bị cáo V mượn xe sử dụng làm phương tiện tội phạm. Anh V chỉ yêu cầu được nhận lại chiếc xe trên, không yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo V. Xét yêu cầu của anh Lê Anh V có căn cứ pháp luật, nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại chiếc xe trên cho anh Lê Anh V.

[6]. Về án phí : Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Ngọc V, Huỳnh Thị Diệu H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”.

2. Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt Đỗ Ngọc V05 ( năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 03 năm 2020.

3. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt Huỳnh Thị Diệu H 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói ma túy niêm phong số 163 ngày 31-03-2020 và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy;

- Trả lại Đỗ Ngọc V: 01 điện thoại di động màu xanh-đen có dòng chữ Newsday (máy đã cũ, không hoạt động); 01 điện thoại di động màu xám hiệu Nokia 1280 ( máy đã cũ, bể màn hình, không hoạt động) và số tiền 50.000 đ (năm mươi ngàn đồng);

- Trả lại Lê Anh V : 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen, biển số 72E1-451.38, số máy 5C6J208302, số khung RLCS5C6JOGY208303 (xe đã cũ và hư hỏng).

Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 97 ngày 13-07-2020 và Biên lai thu tiền số 0001092 ngày 13-07-2020.

4. Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng ( hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


16
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 145/2020/HSST ngày 04/09/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

    Số hiệu:145/2020/HSST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Phú Mỹ - Bà Rịa - Vũng Tàu
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:04/09/2020
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về