Bản án 145/2018/HNGĐ-ST ngày 16/08/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 145/2018/HNGĐ-ST NGÀY 16/08/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 16 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 269/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2018/QĐXX-ST ngày 02 tháng 7 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 174/2018/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Ngọc D - sinh năm 1990 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

Chỗ ở hiện nay: số 194, tổ 5 ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: anh Đào Tường L - sinh năm 1991 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 11.4.2018, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc D trình bày: Chị và anh L do quen biết được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, sống hạnh phúc được 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn, chị về nhà cha mẹ ruột sống từ năm 2013 đến nay, nguyên nhân do bất đồng quan điểm. Nay tình cảm không còn chị xin ly hôn với anh L.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Đào Thị Huế T, sinh ngày 22.01.2013 hiện nay sống chung với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Tòa án đã thông báo thụ lý và triệu tập hợp lệ anh L đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhưng anh vắng mặt và cũng không gửi ý kiến cho Tòa án xem xét. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Chị Nguyễn Thị Ngọc D xin ly hôn với anh Đào Tường L có nơi cư trú ấp Mỹ Thạnh, xã Mỹ An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt, căn cứ Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của chị D:

Chị và anh L do quen biết được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, anh chị sống hạnh phúc đến năm 2013 thì không còn chung sống cho đến nay. Chị D xin ly hôn, Tòa án hòa giải nhiều lần chị D cương quyết ly hôn. Tòa án đã thông báo thụ lý và triệu tập hợp lệ anh L không đến và cũng không gửi ý kiến cho Tòa án xem xét, thời gian anh, chị ly thân đã lâu chứng tỏ mâu thuẫn giữa anh, chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị D xin ly hôn với anh L, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình “Khi vợ hoặc chồng xin ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn...” do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D.

[4] Về con chung: Có 01 con chung Đào Thị Huế T, sinh ngày 21.01.2013 hiện nay sống chung với chị. Xét thấy từ khi anh chị không còn chung sống cháu Trân sống với chị D, cuộc sống ổn định, cháu phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, chị có yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Căn cứ Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con ...”, anh L không có ý kiến về việc nuôi con, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung: Chị D trình bày không có.

[6] Về nợ chung: Ghi nhận chị D trình bày là không có. Nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh chị vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị Nguyễn Thị Ngọc D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc D được ly hôn với anh Đào Tường L.

2- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc D được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đào Thị Huế T, sinh ngày 21.01.2013. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Thị Ngọc D cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3- Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Ngọc D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) chị D đã nộp theo biên lai số 0019506 ngày 11.4.2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới. Chị D không phải nộp thêm.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


79
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 145/2018/HNGĐ-ST ngày 16/08/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:145/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:16/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về