Bản án 145/2018/HNGĐ-ST ngày 10/10/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 145/2018/HNGĐ-ST NGÀY 10/10/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 10 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 507/2018/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2018 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 90/2018/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D; địa chỉ: Xóm 3, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Đức Đ; địa chỉ: Xóm 3, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 7 năm 2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D kết hôn với anh Vũ Đức Đ trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 27 tháng 6 năm 2003. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn căng thẳng. Nguyên nhân do anh Đ mải chơi, thiếu quan tâm chăm sóc gia đình, chị D đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Đ không thay đổi dẫn đến cuộc sống chung không thống nhất, vợ chồng thường xảy ra cãi mắng nhau, anh Đ còn xúc phạm, đánh chị D. Do mâu thuẫn, chị D và anh Đ đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Mâu thuẫn vợ chồng chị D, anh Đ đã được gia đình và chính quyền địa phương hòa giải nhưng không có kết quả. Chị D nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Đức Đ.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Vũ Đức Đ có 02 con chung tên Vũ Thị Ngọc A, sinh ngày 29 tháng 12 năm 2003 và Vũ Phương N, sinh ngày 10 tháng 9 năm 2007. Hiện con chung đang ăn ở, sinh sống cùng chị D. Khi ly hôn chị D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai con chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị D trình bày chị và anh Đ tự thỏa thuận giao nhận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Vũ Đức Đ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, nếu không xong sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết sau.

Bị đơn anh Vũ Đức Đ có nơi cư trú tại xóm 3, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình giải quyết vụ án anh Vũ Đức Đ không hợp tác, cố tình trốn tránh. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác cho anh Đ nhưng đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai anh Vũ Đức Đ vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày về yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị D.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Vũ Đức Đ. Giao con chung Vũ Thị Ngọc A, sinh ngày 29 tháng 12 năm 2003 và Vũ Phương N sinh ngày 10 tháng 9 năm 2007 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung chị D không yêu cầu nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết. Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm: Trích lục kết hôn, bản sao sổ hộ khẩu, bản sao giấy chứng minh nhân dân; bản sao khai sinh của con; Bản tự khai; Biên bản lấy lời khai; Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân và Công an xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn là anh Vũ Đức Đ đang cư trú tại xóm 3, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn là anh Vũ Đức Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Vũ Đức Đ.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Vũ Đức Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 27 tháng 6 năm 2003 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn căng thẳng. Theo tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, cuộc sống chung không thống nhất, bất đồng quan điểm, bản thân anh Đ mải chơi, thiếu quan tâm chăm sóc gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi mắng lẫn nhau. Anh Đ còn xúc phạm và có hành vi đánh chị D. Mâu thuẫn vợ chồng chị D, anh Đ đã được gia đình và địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn chị D và anh Đ đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án anh Vũ Đức Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Đ đều vắng mặt không có lý do, thể hiện anh Đ không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị D và không mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị D và anh Vũ Đức Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Vũ Đức Đ.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Vũ Đức Đ có 02 con chung là cháu Vũ Thị Ngọc A, sinh ngày 29 tháng 12 năm 2003 và Vũ Phương N, sinh ngày 10 tháng 9 năm 2007. Khi ly hôn chị D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai con chung. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần xem xét mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên. Xét từ khi sống ly thân đến nay, chị D là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt. Cháu Vũ Thị Ngọc A và Vũ Phương N có nguyện vọng ở với mẹ nên căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Vũ Ngọc A và Vũ Phương N cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chị D đề nghị để chị và anh Đ tự thỏa thuận giao nhận với nhau nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị D khai chị và anh Vũ Đức Đ có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận phân chia nếu không xong sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết sau. Mặt khác, chưa có lời khai của anh Vũ Đức Đ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Vũ Đức Đ.

2. Về con chung: Giao con chung Vũ Thị Ngọc A, sinh ngày 29 tháng 12 năm 2003 và Vũ Phương N, sinh ngày 10 tháng 9 năm 2007 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Vũ Đức Đ tự thỏa thuận giao nhận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009203 ngày 16 tháng 7 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên. Chị Nguyễn Thị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Vũ Đức Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


83
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 145/2018/HNGĐ-ST ngày 10/10/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:145/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:10/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về