Bản án 144/2020/HNGĐ-ST ngày 30/06/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 144/2020/HNGĐ-ST NGÀY 30/06/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 30 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2020/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2020/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy V sinh năm 1984. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn H, xã A, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.

* Bị đơn: Anh Vũ Văn Q, sinh năm 1988. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn H, xã A, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/3/2020, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy V trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn Q kết hôn tự nguyện, đăng ký hợp pháp ngày 14/12/2015 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội. Cuộc sống hạnh phúc của vợ chồng tồn tại một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm lối sống, đời sống tình dục không hòa hợp và không có con. Từ đầu năm 2018 đến nay vợ chồng ly thân, mỗi người có cuộc sống riêng không ai quan tâm đến ai. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn anh Q.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Vũ Văn Q đang cư trú tại địa phương, đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng không có văn bản thể hiện quan điểm.

Tại biên bản xác minh ngày 11/6/2020, chính quyền địa phương cung cấp:

Chị Nguyễn Thị Thúy V và anh Vũ Văn Q kết hôn tự nguyện đăng ký ngày 14/12/2015 tại UBND xã A. Sau khi kết hôn chị V và anh Q chung sống tại địa phương, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm lối sống và do kết hôn lâu ngày không có con. Từ đầu năm 2018 đến nay, vợ chồng đã ly thân không còn quan tâm đến nhau. Chị V xin ly hôn anh Q, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức nhận xét: Quá trình tiến hành tố tụng đối với vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự quy định; nguyên đơn đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã tống đạt đầy đủ văn bản tố tụng và đã hoãn phiên tòa nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục làm việc.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị V đối với anh Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp về ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy V và anh Vũ Văn Q thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội. Vụ án được giải quyết đúng thời hạn, trình tự, thủ tục tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã tống đạt hợp lệ, đầy đủ văn bản tố tụng nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy V và anh Vũ Văn Q kết hôn tự nguyện, có đăng ký là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị V và anh Q mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm lối sống và không có con. Vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2018 đến nay, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy các quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh Q bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì thế, yêu cầu xin ly hôn của chị V đối với anh Q là có căn cứ theo quy định tại khoản 01 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị V xác nhận không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 01 Điều 35, khoản 01 Điều 39, khoản 04 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a, khoản 05 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

XỬ:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy V được ly hôn anh Vũ Văn Q.

- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị V xác nhận không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thúy V phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được đối trừ vào số tiền dự phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002678 ngày 12/3/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với nguyên đơn; kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết đối với bị đơn.


35
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 144/2020/HNGĐ-ST ngày 30/06/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:144/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Đức - Hà Nội
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:30/06/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về