Bản án 143/2017/HSST ngày 31/07/2017 về tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 143/2017/HSST NGÀY 31/07/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 31/7/2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/TLST-HS ngày 13/7/2017 đối với bị cáo:

Lưu Văn T; Sinh năm 1985; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: TDP Số 4, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; Văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lưu Văn S, sinh năm 1959; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con bà: Trần Thị T, sinh năm 1960; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Vợ: Phó Thị N, sinh năm 1987; Nghề nghiệp:Lao động tự do; Có 02 con sinh năm 2009; Con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không;: Bị cáo bị bắt quả tang ngày 17/5/2017; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Lưu Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 17/5/2017, Lưu Văn T điều khiển xe máy nhãn hiệu SYM Angel, BKS 29T3-4058 từ nhà ở tại tổ dân phố số 4, phường T, quận N, Hà Nội đến khu vực cầu vượt Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội gặp và mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy heroine với giá 200.000 đồng để về sử dụng. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu ở túi quần trước bên phải rồi đi xe máy về nhà, khi đến khu vực Cầu Diễn thuộc Tổ dân phố Ngọa Long, phường Minh Khai, Bắc Từ Liêm, Hà Nội thì bị Công an phường Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm phát hiện, thu giữ trong túi quần trước bên phải của Lưu Văn T 01 gói ma túy heroin. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ, niêm phong tang vật và dẫn giải T về trụ sở giải quyết.

Vật chứng thu giữ của Lưu Văn T gồm: 01 túi nilon màu trắng có kích thước khoảng 1,5x1,5cm bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 xe máy nhãn hiệu SYM Angel 100, màu ghi; BKS 29T3 – 4058; SM: 079737, SK: 079737; Ngày 17/5/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm có Quyết định trưng cầu số 252/CQĐT (ĐTMT) giám định ma túy thu giữ.

Tại Kết luận giám định số 3632/KLGĐ-PC54 ngày 14/6/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận “Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Heroine, trọng lượng 0,145 gam”. Xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Lưu Văn T, kết quả: dương tính (có sử dụng ma túy).

Ngày 17/5/2017, Công an quận Bắc Từ Liêm dẫn giải Lưu Văn T chỉ nơi mua ma túy ở khu vực chân cầu vượt Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội nhưng không phát hiện được đối tượng bán ma túy cho T nên Công an quận Bắc Từ Liêm không đủ căn cứ xử lý.

Xác minh xe máy SYM Angel BKS 29T3-4058, màu ghi SM: 079737, SK: 079737 đăng ký tên Nguyễn Văn K; Địa chỉ: B34, Tổ 6, phường Đ và không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.

Xác minh tại Công an phường Đ, quận L, Hà Nội xác định: Trước đây ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1955 từng sinh sống tại địa chỉ B34, Tổ 16 phường Đ, quận L, Hà Nội. Ông K đã mất vào năm 2008, hiện tại gia đình ông K không sinh sống tại địa chỉ trên.

Ông Lưu Văn S khai: Đầu năm 2015 ông mua chiếc xe máy SYM Angel màu ghi, BKS 29T3- 4058 tại cửa hàng cầm đồ trên đường Láng, quận Đống Đa, Hà Nội của chị Phan Thị T, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số 3, ngách 260/42, Tổ 25 phường Q, quận C, Hà Nội. Khi mua chị T đưa cho 01 đăng ký xe máy tên Nguyễn Văn K và 01 giấy bán xe viết tay. Ngày 17/5/2017, con trai ông là Lưu Văn T mượn xe máy nói đi có việc, ông không biết T sử dụng xe máy đi mua ma túy, nay ông có đơn xin lại tài sản.

Chị Phan Thị T khai: Chị kinh doanh cửa hàng mua bán xe máy cũ, có mua của một người đàn ông (Không nhớ địa chỉ, tên tuổi) 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SYM Angel, BKS 29T3-4058 màu ghi, do đã lâu không còn giấy tờ mua bán. Sau đó chị T bán lại cho ông Lưu Văn S và không còn quyền lợi gì liên quan đến chiếc xe máy trên.

Ngày 28/6/2017, Cơ quan CSĐT Công an quận Bắc Từ Liêm có Quyết định xử lý vật chứng số 85/CQĐT (ĐTMT) trao trả cho ông Lưu Văn S. Ngày 28/6/2017 ông S đã nhận lại tài sản.

Tại Cơ quan điều tra, Lưu Văn T khai nhận hành vi phạm tội như trên và khai do nghiện ma túy heroin từ năm 2011 đến nay nên mua về để sử dụng. T mua ma túy của T niên trên được 4 -5 lần , khi mua thì T đến cầu vượt Mai Dịch tìm anh ta và mua trực tiếp. Chiếc xe máy SYM Angel BKS 29T3-4058, SM: 079737, SK: 079737 là do T mượn của bố T tên là ông Lưu Văn S nói đi có việc.

Tại bản Cáo trạng số 148/CT-VKS, ngày 12/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố bị cáo Lưu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định của bản cáo trạng đã truy tố, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 41 Bộ  luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 và Công văn số 327/TANDTC-PC ngày 07 tháng 11 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao về việc viện dẫn các điều khoản có lợi cho người phạm tội theo Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Lưu Văn T mức án từ 12 đến 18 tháng tù;

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy heroin đã giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Lưu Văn T và Giám định viên.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng đủ cơ sở để kết luận:

Hồi 13 giờ 30 phút ngày 17/5/2017, tại tổ dân phố Ngọa Long 2, phường Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, Lưu Văn T có hành vi cất giấu trái phép trong người 01 gói nilon màu trắng bên trong là ma túy Heroine, trọng lượng 0,145 gam để sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chính sách quản lý, kiểm soát, phòng ngừa, ngăn chặn tệ nạn ma túy của Nhà nước. Ma tuý là hiểm hoạ đối với con người, người mua bán, sử dụng không chỉ gây thiệt hại về kinh tế, ma tuý còn làm tha hoá đạo đức, huỷ hoại sức khoẻ, nòi giống của người sử dụng nó, là nguyên nhân dẫn đến nhiều căn bệnh nguy hiểm và còn là nguyên nhân gây ra một loạt các tội phạm nguy hiểm khác, vì vậy đối với bị cáo cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục đối với bị cáo.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, lần đầu bị đưa ra xét xử. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Mặt khác khi xét xử bị cáo Hội đồng xét xử cũng xem xét các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015. Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy có mức hình phạt nhẹ hơn so với khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 và căn cứ Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 và Công văn số 327/TANDTC-PC ngày 07 tháng 11 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao về việc viện dẫn các điều khoản có lợi cho người phạm tội theo Bộ luật hình sự 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Số ma túy (Heroin) thu giữ của bị cáo là chất gây nghiện Nhà nước cấm sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lưu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016; Công văn số 327/TANDTC-PC ngày 07 tháng 11 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao về việc viện dẫn các điều khoản có lợi cho người phạm tội theo Bộ luật hình sự 2015:

- Xử phạt bị cáo Lưu Văn T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2017.

3. Về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76; Điều 99; Điều 231; Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy đã giám định xác định là ma túy có chữ ký giáp lai của Lưu Văn T và Giám định viên (Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 162/17 ngày 12/7/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm và Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm).

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.


197
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về