Bản án 14/2021/DS-ST ngày 14/01/2021 về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sức khỏe bị xâm phạm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 14/2021/DS-ST NGÀY 14/01/2021 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG SỨC KHỎE BỊ XÂM PHẠM

Trong các ngày 18 tháng 12 năm 2020 và ngày 14 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 283/2020/TLST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2020 về việc "Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe bị xâm phạm" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 242/2020/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 325/2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2020; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 489/2020/QĐ-ST ngày 13 tháng 11 năm 2020 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 599/2020/QĐ-ST ngày 18 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1967 (Có mặt); Trú tại: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Bà Phan K T, sinh năm 1990 (Vắng mặt);

Ông Phan Khánh D, sinh năm 1996 (Vắng mặt);

Cùng trú tại: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị K trình bày: Vào khoảng 07giờ ngày 03/10/2019 tại nhà bà K thuộc ấp Đòn Dong, xã Khánh Lộc, bà Phan K T và ông Phan Khánh D đã dùng tay, chân đánh dẫn đến bà K phải đi điều trị, như sau: Tại Bệnh viện đa khoa khu vực huyện Trần Văn Thời từ ngày 03/10 đến ngày 11/10/2019 là 09 ngày với số tiền 18.453.000 đồng (gồm: tiền thuốc 1.453.000 đồng, tiền mất thu nhập 02 người 3.150.000 đồng, tổn thất tinh thần 10.000.000 đồng, tiền thuê xe 600.000 đồng, tiền chụp CT 1.000.000 đồng, tiền ăn 02 người 2.250.000 đồng). Chi phí điều trị tại Bệnh viện đa khoa thành phố Cà Mau từ ngày 12/10 đến ngày 21/10/2019 là 09 ngày với số tiền 6.225.000 đồng (gồm: tiền thuốc và chi phí khác 680.000 đồng, tiền mất thu nhập 02 người 3.150.000 đồng, tiền xe ôm 150.000 đồng, tiền ăn 02 người 2.250.000 đồng). Nay, bà K khởi kiện yêu cầu bà Phan K T và ông Phan Khánh D bồi thường số tiền 24.678.000 đồng.

Đối với bị đơn bà Phan K T, ông Phan Khánh D. Từ khi thụ lý, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết đúng theo quy định, như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Các thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Giấy triệu tập; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa; Nhưng, bị đơn vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.

Ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, như sau:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Còn bị đơn không hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự, do bị đơn không chấp hành đúng theo triệu tập của Tòa án.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị K về việc yêu cầu bị đơn bà Phan K T và ông Phan Khánh D bồi thường số tiền 7.359.000 đồng; Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị K về việc yêu cầu bị đơn bà Phan K T và ông Phan Khánh D bồi thường số tiền chênh lệch 17.319.000 đồng; Bà T và ông D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Được xác định là “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe bị xâm phạm” theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn và bị đơn đều có nơi cư trú tại ấp Đòn Dong, xã Khánh Lộc, huyện Trần Văn Thời, nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, theo quy định tại khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà T và ông D, đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[4] Về pháp luật áp dụng: Sự kiện pháp lý giữa các đương sự được diễn ra sau ngày Bộ luật dân sự năm 2015 (có hiệu lực ngày 01/01/2017), mà có tranh chấp thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số: 91/2015/QH13 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số: 91/2015/QH13, để giải quyết, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Về nội dung:

[5] Tại, Quyết định số: 04/QĐ-XPHC và Quyết định số: 05/QĐ-XPHC ngày 13/3/2020 của Công an xã Khánh Lộc, ngoài xử phạt vi hành chính đối với bà T và ông D, thì Công an xã Khánh Lộc còn buộc bà T và ông D khắc phục hậu quả cho bà K chi phí điều trị bệnh, mỗi người số tiền 6.203.000 đồng.

[6] Phía, bà K, bà T và ông D không ai có khiếu nại gì đối với Quyết định số: 04/QĐ- XPHC và Quyết định số: 05/QĐ-XPHC ngày 13/3/2020 của Công an xã Khánh Lộc, đồng thời bà K cũng không có yêu cầu Công an xã Khánh Lộc thi hành các quyết định trên. Nhưng, phía bà K lại khởi kiện để yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời giải quyết buộc bà T và ông D bồi thường chi phí điều trị bệnh, do bà T và ông D có hành vi đánh bà K.

[7] Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, Công an xã Khánh Lộc đã ban hành Quyết định số: 02/QĐ-HBQĐXP, Quyết định số: 03/QĐ-HBQĐXP ngày 01/12/2020 hủy bỏ một phần Quyết định số: 04/QĐ-XPHC, Quyết định số: 05/QĐ-XPHC ngày 13/3/2020 có nội dung: Không buộc bà T và ông D bồi thường cho bà K chi phí điều trị bệnh, mỗi người số tiền 6.203.000 đồng.

[8] Tại, Công văn số: 01/CAX ngày 04/01/2021 của Công an xã Khánh Lộc xác định đã tống đạt Quyết định số: 02/QĐ-HBQĐXP, Quyết định số: 03/QĐ-HBQĐXP ngày 01/12/2020 cho bà K, bà T và ông D. Không ai có ý kiến hoặc có khiếu nại gì.

[9] Tại, phiên tòa bà K xác định đã nhận và cam kết không có khiếu nại đối với Quyết định số: 02/QĐ-HBQĐXP, Quyết định số: 03/QĐ-HBQĐXP ngày 01/12/2020 của Công an xã Khánh Lộc. Bà K yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xem xét, giải quyết theo nội dung khởi kiện của bà. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở để xem xét, giải quyết đối với yêu cầu của bà K theo quy định của pháp luật.

[10] Xét, sự việc xô sát, đánh nhau giữa bà K với bà T, ông D vào khoảng 20 giờ ngày 03/10/2019 tại nhà bà K thuộc ấp Đòn Dong, xã Khánh Lộc, là thực tế có xảy ra. Được, Công an xã Khánh Lộc lập Biên bản sự việc vào lúc 21 giờ 20 phút ngày 03/10/2019. Theo đó, có cơ sở xác định phía bà T và ông D đã có hành vi đánh bà K bằng tay, chân và dẫn đến bà K phải đi điều trị bệnh tại cơ sở y tế, là hành vi trái pháp luật của bà T và ông D. Bà K yêu cầu bà T và ông D bồi thường theo Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 là có cơ sở. Do đó, có cơ sở chấp nhận và điều chỉnh lại chi phí điều trị của bà K tại Bệnh viện đa khoa khu vực huyện Trần Văn Thời từ ngày 03/10 đến ngày 11/10/2019 là 09 ngày với số tiền 7.359.000 đồng (gồm: tiền thuốc 669.000 đồng, tiền mất thu nhập 02 người x 200.000 đồng x 09 ngày = 3.600.000 đồng, tổn thất tinh thần 01 tháng/1.490.000 đồng, tiền thuê xe 600.000 đồng, tiền chụp CT 1.000.000 đồng). Đối với chi phí điều trị của bà K tại Bệnh viện đa khoa thành phố Cà Mau từ ngày 12/10 đến ngày 21/10/2019 là 09 ngày với số tiền 17.319.000 đồng, là không có cơ sở chấp nhận.

[11] Xét, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời nhận định phù hợp với Hội đồng xét xử, nên có cơ sở để chấp nhận.

[12] Về án phí: Do, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà K, nên cần buộc bà T và ông D mỗi người phải chịu án phí dân sự có giá ngạch số tiền 300.000 đồng, theo khoản 3 Điều 144; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 3; Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đối với khoản tiền án phí dân sự có giá ngạch 865.950 đồng (17.319.000 đồng x 5%), do không chấp nhận yêu cầu của bà K, nhưng bà K có đơn yêu cầu miễn án phí và thuộc trường hợp “Miễn nộp tiền tạm ứng án phí” theo điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nên cần miễn nộp cho bà K số tiền 865.950 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 584; Điều 585; Điều 590; điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Điều 3; Điều 6; điểm d khoản 1 Điều 12; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị K về việc yêu cầu bị đơn bà Phan K T và ông Phan Khánh D bồi thường số tiền 7.359.000 đồng.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị K về việc yêu cầu bị đơn bà Phan K T và ông Phan Khánh D bồi thường số tiền chênh lệch 17.319.000 đồng.

3. Buộc bà Phan K T và ông Phan Khánh D bồi thường cho bà Nguyễn Thị K số tiền 7.359.000 đồng (Bà T bồi thường số tiền 3.679.500 đồng, ông D bồi thường số tiền 3.679.500 đồng).

4. “Kể từ ngày bà Nguyễn Thị K có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Phan K T và ông Phan Khánh D không thi hành xong khoản tiền trên, bà Phan K T và ông Phan Khánh D còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả”.

5. Về án phí: Buộc bà Phan K T và ông Phan Khánh D phải nộp án phí dân sự có giá ngạch số tiền 600.000 đồng (Bà T phải nộp số tiền 300.000 đồng – Chưa nộp, ông D phải nộp số tiền 300.000 đồng – Chưa nộp). Miễn nộp cho bà Nguyễn Thị K án phí dân sự có giá ngạch số tiền 865.950 đồng.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị K được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn bà Phan K T và ông Phan Khánh D được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

7. Về nghĩa vụ thi hành án: “Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


75
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2021/DS-ST ngày 14/01/2021 về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sức khỏe bị xâm phạm

Số hiệu:14/2021/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/01/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về