Bản án 14/2019/HS-ST ngày 06/06/2019 về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 14/2019/HS-ST NGÀY 06/06/2019 VỀ TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI

Ngày 06 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 10/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2019/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 5 năm 2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Minh Nh, sinh năm 1989, tại xã MQ, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp A, xã VT, huyện TT, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; cha Nguyễn Minh Tr, mẹ Lê Thị H; Anh, em ruột: có 04 người, bị cáo thứ hai; Vợ tên: Trương Thúy D (đã ly thân); Con 01 đứa 06 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không có. Bị khởi tố vào ngày 03/01/2019 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 03/01/2019 cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lý Bình Đ - Văn phòng Luật sư VL - Chi nhánh tỉnh Sóc Trăng, thuộc đoàn luật sư thành phố CT.

Địa chỉ: quốc lộ 1A, phường B, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị hại: Em Võ Thị Gi, sinh ngày 25/12/2005. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại.

1/ Bà Trần Thị N, sinh năm 1985. (Vắng mặt)

2/ Ông Võ Văn V, sinh năm 1976. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp MT1, xã HP, huyện PL, tỉnh Bạc Liêu

Đại diện ủy quyền của bà N là ông Trần Việt Q, sinh năm 1955 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp MPh, xã MB, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Trịnh Hồng N1 - Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)

- Đại diện nhà trường nơi người bị hại đang học tập: Ông Phạm Minh Qu- Đại diện Trường Trung học cơ sở MB, xã MB, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)

- Đại diện cơ quan nơi người bị hại đang sinh hoạt: Đại diện Ủy ban nhân dân xã MB, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

- Người tham gia t tụng khác (Người làm chứng): Không có.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trước đây, giữa bị cáo Nguyễn Minh Nh và em Võ Thị Gi, sinh ngày 25/12/2005 (ở ấp MP, xã MB, thị xã N) quen biết nhau qua mạng xã hội và có tình cảm với nhau, nên trưa ngày 27/11/2018 bị cáo nhắn tin qua điện thoại di động của em Gi rủ tối nay đi ra “cống Năm Trăm” ở ấp MP, xã MB, thị xã N để tâm sự.

Đến khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 27/11/2018 bị cáo điều khiển xe mô tô chạy đến “Cống Năm Trăm” ngồi đợi, khoảng 30 phút sau em Gi đi bộ lại gặp bị cáo. Khi gặp nhau, bị cáo và em Gi đi ra phía sau Trạm bơm nước đứng nói chuyện qua lại khoảng 20 phút, thì bị cáo nẩy sinh ý định giao cấu với em Gi, nên bị cáo ôm hôn vào vùng mặt, vùng ngực và cởi quần dài, quần lót của em Gi xuống khỏi đầu gối, kế tiếp bị cáo cũng tự cởi quần dài quần lót và lấy bao cao su (đem theo sẵn) trùm vào đầu dương vật của bị cáo để giao cấu, do cả hai đều đứng không thể giao cấu được, nên bị cáo lấy tấm áo mưa trong cốp xe ra trải xuống sàn bê tông của trạm bơm, rồi dìu em Gi nằm ngữa xuống tấm áo mưa, còn bị cáo quỳ gối nằm trên người bị hại đưa dương vật của bị cáo vào âm hộ của em Gi để giao cấu, khoảng 05 - 06 phút sau thì giao cấu xong, bị cáo đứng dậy gỡ bao cao su ở đầu dương vật ra và ném bỏ xuống kênh thủy lợi. Sau đó, bị cáo cùng với em Gi tự mặc quần vào và tiếp tục ngồi nói chuyện một lúc nữa thì em Gi đi bộ trở vô nhà của ông Trần Việt Qu (ông ngoại em Gi), còn bị cáo điều khiển xe mô tô đi về nhà ngủ. Đến ngày 10/12/2018 em Gi kể lại sự việc có quan hệ tình dục với bị cáo cho ông Trần Việt Qu nghe, nên ông Trần Việt Qu liền đến trình báo Công an xã MB để tố giác hành vi phạm tội của bị cáo. Sau khi tiếp nhận tin báo tố giác về tội phạm, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã N đã đưa em Gi đi khám tại bệnh viện chuyên khoa.

Căn cứ vào giấy chứng nhận thương tích số 33/CNTT-2018 ngày 10/12/2018 của Bệnh viện Chuyên khoa Sản - Nhi tỉnh Sóc Trăng, chứng nhận: em Gi, sinh ngày 25/12/2005, như sau:

Tình trạng thương tích lúc vào viện: Bệnh tỉnh, toàn thân không dấu trầy sướt. Khám chuyên khoa: Môi lớn: Bình thường. Môi bé: Bình thường. Tiền đình: Bình thường. Hậu môn: Không xây xát. Có dịch âm đạo đục chảy ra. Màng trinh: Dãn rộng, vết sướt trợt mới ở vị trí 3giờ, rách củ vị trí 3giờ, 7giờ, 9giờ. Cận lâm sàng: Siêu âm: Tử cung và hai phần phụ: Kết quả siêu âm: Nang cơ năng buồng trứng; Xét nghiệm: Soi tươi dịch âm đạo tìm tinh trùng và Test thai. Kết quả xét nghiệm: Không tìm thấy tinh trùng trong dịch âm đạo. Kết quả Test thai: Âm tính.

Tại Cáo trạng số: 10/CT-VKS-KSDT, ngày 17/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm để xét xử bị cáo Nguyễn Minh Nh về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa: Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015, tuyên phạt bị cáo với mức án từ 04 năm đến 05 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại không yêu cầu gì nên đề nghị HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: 01 áo mưa màu xám, số đo 1,5m x 01m (loại áo mưa cánh dơi), trên áo mưa có dòng chữ “Shell ADVANCE Moto Cycle Oils”, hiện Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm quản lý, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại vì không còn giá trị sử dụng nên đề nghị HĐXX tịch thu, tiêu hủy.

Tại Phiên tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất với cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 142 BLHS năm 2015 và lời trình bày của đại diện viện kiểm sát. Đối với các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện viện kiểm sát trình bày luật sư cũng thống nhất, tuy nhiên luật sư đề nghị HĐXX áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đó là việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là do sự chủ quan, nhầm lẫn về độ tuổi bị hại, khả năng nhận thức pháp luật của bị cáo chưa cao, bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi con nhỏ và cha mẹ già. Từ đó, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo mức án từ 03 năm đến 04 năm tù.

Tại Phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại thống nhất với cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 142 BLHS năm 2015 và lời trình bày của đại diện viện kiểm sát về các tình tiết giảm nhẹ cũng như mức án mà đại diện viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại ông Trần Việt Qu xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, ngoài ra trách nhiệm dân sự không yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo là đúng theo Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, đồng thời bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về chăm sóc con nhỏ và cha, mẹ già yếu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, người bị hại em Võ Thị Gi và Người đại diện hợp pháp của người bị hại Giao là bà Trần Thị Nh, ông Võ Văn V, đại diện UBND xã MB vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không gây cản trở cho việc xét xử và họ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 8 Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC, ngày 21/9/2018 của Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của tòa gia đình và người chưa thành niên, tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người nêu trên.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Ngã Năm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh Nh đã khai nhận toàn bộ hành vi giao cấu với người bị hại em Võ Thị Gi vào ngày 27/11/2018 tại “Cống Năm Trăm” thuộc ấp MPc, xã MB, thị xã N như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và biên bản khám nghiệm hiện trường cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

[4] Theo giấy chứng nhận thương tích số 33/CNTT-2018 ngày 10/12/2018 của Bệnh viện chuyên khoa sản nhi tỉnh Sóc Trăng kết luận bị hại Võ Thị Gi Tình trạng thương tích lúc vào viện: Bệnh tỉnh, toàn thân không dấu trầy sướt; Khám chuyên khoa: Môi lớn: Bình thường. Môi bé: Bình thường. Tiền đình: Bình thường. Hậu môn: Không xây xát. Có dịch âm đạo đục chảy ra. Màng trinh: Dãn rộng, vết sướt trợt mới ở vị trí 3giờ, rách củ vị trí 3giờ, 7giờ, 9giờ; Cận làm sàng: Siêu âm: Tử cung và hai phần phụ: Kết quả siêu âm: Nang cơ năng buồng trứng; Xét nghiệm: Soi tươi dịch âm đạo tìm tinh trùng và Test thai. Kết quả xét nghiệm: Không tìm thấy tinh trùng trong dịch âm đạo. Kết quả Test thai: Âm tính. Xét thấy, tại thời điểm bị cáo quan hệ tình dục với bị hại thì bị hại chỉ mới 12 tuổi 11 tháng 02 ngày (Theo giấy khai sinh của Ủy ban nhân dân xã HP, huyện PL, tỉnh Bạc Liêu cấp cho bị hại Võ Thị Gi). Mặc dù việc giao cấu này được thực hiện có sự đồng tình của bị hại nhưng bị hại là người dưới 13 tuổi nên bị cáo Nh phải bị xử lý về hành vi này. Do đó, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 Bộ luật hình sự năm 2015. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[5] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và tâm sinh lý của trẻ em. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ rằng trẻ em ở độ dưới 13 tuổi là chưa phát triển đầy đủ về tâm sinh lý, nên việc giao cấu với các em sẽ gây nguy hiểm đến sự phát triển bình thường của họ, bị cáo lợi dụng sự non nớt, nhẹ dạ và chưa hiểu biết của người bị hại để giao cấu với bị hại. Mặc dù, việc giao cấu có sự đồng tình của bị hại nhưng hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội về mặt đạo đức nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt sau này, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[6] Tuy nhiên, cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 55.000.000 đồng; tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đồng thời bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải chăm sóc con nhỏ nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ Luật hình sụ 2015, xử phạt bị cáo thấp hơn khung hình phạt, để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối với những ai đã lầm lỗi biết ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Về vật chứng trong vụ án: 01 áo mưa màu xám, số đo 1,5m x 01m (loại áo mưa cánh dơi), trên áo mưa có dòng chữ “Shell ADVANCE Moto Cycle Oils”, tại phiên tòa bị cáo không nhận lại vì không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

[9] Lời đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm về mức hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng như đã nêu trong phần nội dung là có căn cứ chấp nhận như đã phân tích trên.

[10] Lời đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo như đã phân tích trên là có căn cứ, HĐXX chấp nhận.

[11] Lời đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại như đã phân tích trên là có căn cứ HĐXX chấp nhận.

[12] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 142; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Nh phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.

2/ Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Minh Nh 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bị bắt để chấp hành án.

3/ Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4/ Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Minh Nh phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Bị cáo; người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


197
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về