Bản án 14/2019/HNGĐ-ST ngày 28/06/2019 về kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 14/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/06/2019 VỀ KIỆN LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 28/6/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 113/2019/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2019 về việc kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th; sinh năm: 1994 dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: tự do;

Địa chỉ: Tổ 03, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Có mặt

Bị đơn: Anh Nguyễn Đức Q; sinh năm: 1987; dân tộc: Kinh ; nghề nghiệp: tự do.

Địa chỉ: Tổ 03, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Hiện đang thụ án tại đội 23, phân trại số: 020 Trại tạm giam Quyết Tiến, xã Thượng Ấm, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang; Có đơn xin xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th trình bày:

Chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Đức Q đăng ký kết hôn ngày 12/6/2012 tại Ủy ban nhân dân phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Hôn nhân dựa trên sự tìm hiểu, tự nguyện không do bên nào ép buộc. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến cuối năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Nguyễn Đức Q mải chơi sa vào tệ nạn xã hội và nghiện ma túy, không tu chí làm ăn, không quan tâm chăm sóc gia đình, từ đó vợ chồng hay cãi, chửi nhau không thông cảm cho nhau. Mâu thuẫn xảy ra đã được gia đình và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không được. Anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2016 đến 15/5/2018 anh Nguyễn Đức Q phạm tội mua bán trái phép chất ma túy và phải đi cải tạo tại đội 23, phân trại số: 20 Trại tạm giam Quyết Tiến, xã Thượng Ấm, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Đến nay, chị Nguyễn Thị Th thấy không thể tiếp tục chung sống cùng anh Nguyễn Đức Q nữa chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đức Q .

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Ánh Dương; sinh ngày 03/12/2012 hiện đang sống với chị Nguyễn Thị Th. Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị Th đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi con, không yêu cầu anh Nguyễn Đức Q phải cấp dưỡng nuôi con chung

Về tài sản: Chị Nguyễn Thị Thkhông yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 15/5/2019, bị đơn anhNguyễn Đức Q trình:

Anh và chị Nguyễn Thị Th tự nguyện tìm hiểu yêu thương và kết hôn với nhau năm 2012 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Hôn nhân dựa trên sự tìm hiểu, tự nguyện không do nào ép buộc, đến cuối năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là anh nguyên nhân là do anh nghiện ma túy và không quan tâm đến gia đình, từ đó vợ chồng hãy cãi, chửi nhau. Từ cuối năm 2016 anh và chị Nguyễn Thị Th đã sống ly thân, đến 15/5/2018 thì anh bị bắt về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và hiện nay đang cải tạo tại đội 23, phân trại số: 20 Trại tạm giam Quyết Tiến, xã Thượng Ấm, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Đến nay, chị Nguyễn Thị Th xin ly hôn anh nhất trí ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt anh.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Ánh Dương; sinh ngày 03/12/2012 hiện đang sống với chị Nguyễn Thị Th. Khi ly hôn anh nhất trí để chị Nguyễn Thị Th được trực tiếp nuôi con, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Anh Nguyễn Đức Q không yêu cầu tòa án giải quyết. Tại phiên tòa anh Nguyễn Đức Q có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giải quyết việc ly hôn với anh Nguyễn Đức Q có hộ khẩu thường trú tại: Địa chỉ: Tổ 03, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Hiện đang thụ án tại đội 23, phân trại số: 020 Trại tạm giam Quyết Tiến, xã Thượng Ấm, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai đã giải quyết vụ án đúng thời hạn, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về hành vi và các quyết định tố tụng, do đó hành vi và các văn bản tố tụng đó là hợp pháp. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Nguyễn Đức Q vắng mặt, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, do vậy vụ án được giải quyết theo thủ tục chung.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Đức Quân có đăng ký kết hôn ngày 12/6/2012 tại Ủy ban nhân dân phường Phố Mới, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Hôn nhân dựa trên sự tìm hiểu, tự nguyện không do bên nào ép buộc. Do vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Trong quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Nguyễn Đức Quân nghiện ma túy, vợ chồng không thông cảm cho nhau, thường hay cãi, chửi nhau. Mâu thuẫn xảy ra được chính quyền địa phương, bạn bè khuyên giải nhưng không được. Anh Nguyễn Thị Thvà anh Nguyễn Đức Quân đã sống ly thân, từ cuối năm 2016 đến 15/5/2018 thì anh Nguyễn Đức Quân bị bắt và hiện nay đang cải tạo tại đội 23, phân trại số: 20 Trại tạm giam Quyết Tiến, xã Thượng Ấm, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Như vậy mẫu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Đức Quân đã trở lên trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị Th cương quyết đề nghị Tòa án giải quyết để chị được ly hôn với anh Nguyễn Đức Q. Xét thấy mâu thuẫn gia đình chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Đức Q đã trở lên trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không ai quan tâm đến ai, vợ chồng đã sống ly thân nên cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Vậy cần chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị Th giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đức Q theo quy định khoản 1 Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

[3] Về con chung: Xét việc giao nuôi con thấy rằng anh Nguyễn Đức Q hiện đang chấp hành án, cháu Nguyễn Ánh Dương; sinh ngày 03/12/2012 đang ở cùng chị Nguyễn Thị Th. Chị Nguyễn Thị Th là công nhân có thu nhập khoảng 5.000.000 đồng/tháng. Căn cứ điều 81 ; 82 ;83 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Nguyễn Ánh Dương; sinh ngày 03/12/2012 cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. AnhNguyễn Đức Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung .

[4] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Th không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Nên áp dụng khoản 1 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.

Từ những nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 51; Điều 56 ; 81 ;82 ;83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 147; khoản 1 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng , án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Đức Q.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ánh Dương; sinh ngày 03/12/2012 cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Ánh Dương đủ 18 tuổi. AnhNguyễn Đức Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Nguyễn Đức Q có quyền đi lại, thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Xác nhận chị Nguyễn Thị Th đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AB/2012/0006019 ngày 14/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, được trừ vào tiền án phí phải nộp.

Chị Nguyễn Thị Th được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Anh Nguyễn Đức Q được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2019/HNGĐ-ST ngày 28/06/2019 về kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:14/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lào Cai - Lào Cai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về