Bản án 14/2017/HSST ngày 27/07/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 14/2017/HSST NGÀY 27/07/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 27 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 16 /2017/HSST ngày 01 tháng 6  năm 2017 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Võ Quốc H - sinh năm: 1988 (Có mặt)

- Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp N, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau.

- Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau.

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

- Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Chạy xe Honda khách.

- Con ông: Võ Thanh Đ - sinh năm 1960 và bà Mạc Thị Bích T - sinh năm 1960 .

- Vơ: Nguyễn Ngọc Th – sinh năm: 1988 và Dương Thúy V – sinh năm 1988.

Cả hai đã ly hôn.

- Con: 02 người (Lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2014) .

- Tiền án, tiên sư: Không.

- Tạm giữ ngày 19/3/2017; Tạm giam ngày 24/3/2017.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn N, sinh năm 1994 (Vắng mặt); Địa chỉ cư trú: Khóm 1, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào lúc 15 giờ 40 phút ngày 19/3/2017, Cụm Đặc nhiệm phòng chống ma túy số 4 – Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển kết hợp với Công an huyện Năm Căn và Công an thị trấn N tiến hành kiểm tra và bắt quả tang Võ Quốc H đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho Trần Văn N tại quán cà phê M thuộc khóm S, thị trấn N, huyện N. Qua đó tang vật thu giữ gồm:

- Một gói nilon bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt dạng rắn nghi là ma túy (thu giữ trên người của N) kí hiệu M1;

- Một xe mô tô Dream 110i màu xanh lá cây đã qua sử dụng biển kiểm soát 69FA-1820 (xe của H);

- Một điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có số thuê bao 0888 659 677 của Trần Văn N;

- Một điện thoại di động hiệu Samsung màu đen có số thuê bao 0912 845 603 của Võ Quốc H;

- Tiền Việt Nam đồng là 1.650.000 đồng thu giữ trên người của H.

- Một Giấy chứng minh nhân dân và một Giấy phép lái xe đứng tên Võ Quốc H;

- Một Giấy đăng ký xe mô tô đứng tên Trần Thị X và một chìa khóa xe.

Qua làm việc thì Võ Quốc H tự nguyện giao nộp một gói nilon bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt dạng rắn nghi là ma túy, thu giữ tại nhà của H ở ấp T, xã V, huyện N, kí hiệu M2.

Tại bản kết luận giám định số: 14 ngày 20/3/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận:

Gói 1: Mẫu tinh thể được niêm phong gửi giám định (kí hiệu M1) có trọng lượng 0,210 gam, có Methamphetamine;

Gói 2: Mẫu tinh thể được niêm phong gửi giám định (kí hiệu M2) có trọng lượng 2,881 gam, có Methamphetamine; Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 67 theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Qua điều tra xác định: Võ Quốc H là đối tượng nghiện ma túy nên ngày 17/3/2017, H đi đến thành phố C gặp một người thanh niên tên Q nhà ở Cống Kênh M, phường 9, thành phố C hỏi mua ma túy đá mục đích để sử dụng và bán lại cho con nghiện lấy tiền tiêu xài. Tại đây, Q bán cho H 01 bịt ma túy đá với số tiền là 2.300.000 đồng, sau đó H mang về nhà ở ấp T, xã V, huyện N cất giấu.

Trần Văn N là đối tượng nghiện ma túy biết H có bán ma túy nên vào ngày 19/3/2017 N dùng điện thoại sim số 0888 659 677 liên lạc với Võ Quốc H qua số điện thoại 0912 845 603 để hỏi mua ma túy đá với số tiền 700.000 đồng để sử dụng thì H đồng ý và hẹn gặp nhau tại quán cà phê M thuộc khóm S, thị trấn N. Tại đây, H bán cho N 01 bịt nilon bên trong có chứa loại ma túy đá và N trả cho H số tiền 700.000 đồng, cả hai vừa cất ma túy và tiền vào túi quần thì bị bắt quả tang.

Ngoài lần bị bắt quả tang ra, Võ Quốc H và Trần Văn N cùng xác định là H còn bán ma túy cho N 04 lần, những lần bán này H và N chỉ nhớ địa điểm, số tiền bán ma túy nhưng không nhớ cụ thể thời gian cũng như khi bán không có ai chứng kiến cũng như không thu giữ được chất ma túy.

Tại bản cáo trạng số: 14/KSĐT-TA ngày 31/5/2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn truy tố đối với Võ Quốc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 - 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tiêu hủy hai gói ma túy và hai sim điện thoại; các tang vật khác tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo đồng ý với toàn bộ nội dung bản cáo trạng truy tố, không có ý kiến tranh luận; bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những chứng cứ được thẩm tra tại tòa, do đó có đủ cơ sở kết luận: Lúc 15 giờ 40 phút ngày 19/3/2017 Cụm đặc nhiệm phòng chống ma túy số 4 - Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển kết hợp với lực lượng Công an bắt quả tang bị cáo Võ Quốc H đang mua bán trái phép chất ma túy cho Trần Văn N. Tại hiện trường thu giữ một gói nylon bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt (Ký hiệu M1) và thu giữ tại nhà của bị cáo một gói nylon chứa các hạt tinh thể trong suốt (Ký hiệu M2).

Tại bản kết luận giám định số: 14/GĐMT-PC15 ngày 20/3/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận:

Gói 01: Mẫu tinh thể được niêm phong gửi giám định (Ký hiệu M1) có trọng lượng 0,210 gam, có Methamphetamine .

Gói 02: Mẫu tinh thể được niêm phong gửi giám định (Ký hiệu M2) có trọng lượng 2,881 gam, có Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 67, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Căn cứ Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 thì nhóm mẫu trên không thuộc nhóm phải xác định hàm lượng.

Ngoài lần bắt quả tang ngày 19/3/2017 thì bị cáo khai nhận trước đó có bốn lần bán ma túy, nhưng không có căn cứ chứng minh những lần bán ma túy này với trọng lượng bao nhiêu nên không có cơ sở xác định bị cáo Võ Quốc H phạm tội nhiều lần.

Như vậy, bắt quả tang bị cáo bán ma túy với trọng lượng 0,210 gam và thu giữ tại nhà bị cáo 2,881 gam, số ma túy thu giữ tại nhà, bị cáo khai nhận mục đích để bán và sử dụng dần. Do đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo H thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo đã tiếp tay cho việc làm phát sinh, phát triển tệ nạn nghiện hút ma túy thông qua hành vi bán ma túy đá cho đối tượng nghiện. Bị cáo biết rõ chất ma túy là loại Nhà nước cấm lưu hành, cấm sử dụng khi chưa có sự cho phép của cơ quan thẩm quyền, bởi tác hại của nó đối với bản thân người sử dụng và đối với sinh hoạt chung của xã hội, nhưng vì động cơ vụ lợi bị cáo bất chấp pháp luật, nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo thành người tốt và mang tính phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến những tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo khai đã mua ma túy của người thanh niên tên Q địa chỉ ở Cống Kênh M, phường 9, thành phố C. Do không xác định được cụ thể đối tượng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Năm Căn tách ra khi nào có căn cứ xử lý sau.

Đối với Trần Văn N có hành vi mua ma túy để sử dụng trái phép, Công an huyện Năm Căn có quyết định xử phạt hành chính là đúng pháp luật.

Xử lý tang vật:

- Tiêu hủy: Hai phong bì  được niêm phong, bên trong chứa thành phần Methamphetamine;

Hai sim số điện thoại không còn giá trị sử dụng: Sim số của Trần Văn N 0888.659.677 và sim số của bị cáo H 0912.845.603.

- Sung công quỹ Nhà nước những tang vật liên quan đến vụ án:

+ Một điện thoại di động của bị cáo H hiệu Samsung màu đen dùng vào việc liên lạc bán ma túy.

+ Một điện thoại di động của Trần Văn N hiệu Nokia màu đen, liên lạc mua ma túy.

+ Tiền Việt Nam đồng 700.000 đồng (tiền mua bán ma túy).

+ Một chiếc xe mô tô bên ngoài có chữ Dream 110i, màu xanh lá cây, biển kiểm soát 69F4 - 1820 đã qua sử dụng và kèm theo chìa khóa xe. Chiếc xe bị cáo dùng làm phương tiện đến điểm hẹn để bán ma túy.

Đối với giấy đăng ký xe biển kiểm soát 69F4 - 1820 đứng tên bà Trần Thị X Cơ quan cảnh sát điều tra đã giao trả cho bị cáo, xét thấy cần buộc bị cáo phải giao nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn vì chiếc xe tịch thu xung công quỹ Nhà nước.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, vì bị cáo bán ma túy số lượng không lớn và bản thân bị cáo không có thu nhập ổn định.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa được chấp nhận toàn bộ.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu.

Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Võ Quốc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng:

+ Khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 và 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, Xử phạt: Bị cáo Võ Quốc H 02 năm (hai năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 19/3/2017. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

+ Điểm b khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Xử lý tang vật:

- Tiêu hủy:

+ Hai phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy được niêm phong kín, ký hiệu M1 và M2, bên ngoài có chữ ký giám định viên Phùng Thúy A, chữ ký người chứng kiến Phạm Thanh Trường S và có chữ ký của người bị bắt là Võ Quốc H và Trần Văn N.

+ Hai sim số điện thoại không còn giá trị sử dụng: Sim số của Trần Văn N 0888.659.677 và sim số của bị cáo H số 0912.845.603.

- Sung công quỹ Nhà nước những tang vật liên quan đến vụ án:

+ Một điện thoại di động của bị cáo H hiệu Samsung màu đen.

+ Một điện thoại di động của Trần Văn N hiệu Nokia màu đen.

+ Tiền Việt Nam đồng 700.000 đồng.

+ Một chiếc xe mô tô bên ngoài có chữ Dream 110i, màu xanh lá cây, biển kiểm soát 69F4-1820 đã qua sử dụng và kèm theo chìa khóa xe.

(Tang vật Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn quản lý).

Buộc bị cáo phải giao nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn một giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 69F4 - 1820 đứng tên Trần Thị X.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Võ Quốc H phải chịu 200.000 đồng.

Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt tính từ ngày nhận bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.


98
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về