Bản án 14/2017/HSST ngày 05/07/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 14/2017/HSST NGÀY 05/07/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 05 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2017/TLST-HS ngày 02/6/2017 đối với:

Bị cáo: Phạm Đức C, sinh năm 1987 tại Hải Phòng. Trú tại: Khu phố A, thị trấn B, huyện VB , thành phố Hải Phòng. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: Lớp 8/12; con ông Phạm Văn G, sinh năm 1959 và bà Trần Thị L, sinh năm 1961, có vợ là Dương Thị P; có 2 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016). Tiền sự, tiền án: không có. Bị tạm giữ từ ngày 14/02/2017 đến ngày 17/02/2017 chuyển sang tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Phạm Đức C bị Viện Kiểm sát nhân dân huỵên Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 14 giờ ngày 13 tháng 02 năm 2017 Phạm Đức C đi xe buýt từ nhà ở Khu phố A, thị trấn B, huyện  VB,  thành  phố  Hải  Phòng  đến  khu  vực  đường  tàu  sắt,  Đường  Trần Nguyên Hãn, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng với mục đích mua ma túy về sử dụng. Tại đây, C có mua của một người nam giới không quen biết 1.400.000đ được 01 gói bọc băng dính màu đen và 1 ống nhựa bên trong đều có chứa ma túy đá, sau đó C về nhà. Khoảng 20 giờ cùng ngày anh Trần Minh Q ở thôn M, xã VQ, huyện VB, thành phố Hải Phòng đến nhà để nhờ bố C là ông Phạm Văn G xin việc cho Q nhưng ông Giang không có ở nhà. Thấy C chuẩn bị đi chơi thì Q xin đi cùng, C đồng ý nhưng C không nói cho Q biết C đi đâu, làm gì. Đến 20 giờ 35 phút cùng ngày C gọi xe taxi của hãng Tuấn Trang mang biển số 15A- 210.04 do anh Nguyễn Văn L điều khiển chở C và Q đến khu vực Trường Trung học phổ thông Tô Hiệu, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng với mục đích C mượn dụng cụ để sử dụng ma túy của người bạn xã hội biệt hiệu là Bin (không rõ tên thật, địa chỉ). Đến 21 giờ 20 phút khi C đang đứng trước cổng trường Tô Hiệu thì bị Công an huyện Vĩnh Bảo kiểm tra, lập biên bản bắt quả tang thu giữ trong túi áo khoác C đang mặc 1 gói bọc băng dính màu đen trong chứa chất tinh thể màu trắng; thu giữ trong túi quần bò mà C đang mặc 1 ống nhựa trong chứa chất tinh thể màu trắng; thu giữ 1 điện thoại Nokia đen trắng đã cũ và đưa C về Công an huyện Vĩnh Bảo để điều tra làm rõ.

Tại Bản kết luận giám định số 474/PC54(MT) ngày 14/02/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an thành phố Hải Phòng đã kết luận: “Trọng lượng Methamphetamine có trong 1,9859 gam tinh thể của mẫu M1 gửi giám định là 1,3637 gam. Trọng lượng Methamphetamine có trong 0,1956 gam tinh thể của mẫu M2 gửi giám định là 0,1372 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT: 67 Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ”

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, Phạm Đức C đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu.

Bản cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 02 tháng 6 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã truy tố Phạm Đức C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, kiểm sát viên trình bày lời luận tội khẳng định việc truy tố Phạm Đức C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố Phạm Đức C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và xử phạt Phạm Đức C từ 24 đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Phạm Đức C. Tịch thu tiêu hủy số ma túy và bao bì do cơ quan giám định hoàn lại; trả lại Phạm Đức C chiếc điện thoại Nokia.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Đức C khai nhận do nghiện ma túy đá nên ngày 13/02/2017 đã đến khu vực đường tàu sắt, Đường Trần Nguyên Hãn, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng mua 1.400.000đ ma túy đá của một người không quen biết mục đích để sử dụng. Đến 21 giờ 20 phút cùng ngày C đang đứng ở cổng Trường Trung học phổ thông Tô Hiệu, huyện Vĩnh Bảo với mục đích mượn dụng cụ để sử dụng ma túy của người bạn xã hội biệt hiệu là Bin, thì bị Công an huyện Vĩnh Bảo bắt quả tang, thu giữ trong túi áo khoác C đang mặc 1 gói bọc băng dính màu đen trong chứa ma túy đá; thu giữ trong túi quần bò mà C đang mặc 1 ống nhựa trong chứa ma túy đá.

Tại lời nói sau cùng bị cáo Phạm Đức C đã trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

XÉT THẤY

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của Phạm Đức C là hoàn toàn rõ ràng, phù hợp với  lời khai của người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ đã đủ cơ sở xác định: Hồi 21 giờ 20 phút ngày 13/02/2017 Phạm Đức C đã cất dấu trong túi áo khoác và túi quần của C 2,1815 gam chất bột màu trắng có chứa 1,5009 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang tại cổng Trường Trung học phổ thông Tô Hiệu thuộc địa bàn xã Việt Tiến, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

Như vậy đã đủ cơ sở kết luận Phạm Đức C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Căn cứ Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội thì khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 có hình phạt nhẹ hơn khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, được áp dụng cho Phạm Đức C.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự, trị an - xã hội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Xét về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền sự, tiền án; phạm tội lần đầu; khai báo thành khẩn. Đây là tình tiết giảm nhẹ mà Phạm Đức C được hưởng quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo xong cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là người lao động tự do, thu nhập thấp, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Chiếc điện thoại Nokia bị cáo không dùng vào việc phạm tội cần trả lại bị cáo. Số ma túy thu của C qua giám định, cơ quan giám định hoàn lại cùng vỏ bao đã niêm phong cần tịch thu tiêu hủy.

Trong vụ án này anh Nguyễn Văn L và anh Trần Minh Q không biết C tàng trữ ma túy nên cơ quan điều tra không xử lý gì đối với họ là đúng pháp luật. Đối với người bán ma túy và người tên Bin do C khai ra không có cơ sở để xử lý.

Về án phí: Bị cáo Phạm Đức C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Đức C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Đức C 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 14/02/2017.

3. Vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử tịch thu tiêu hủy số ma túy và vỏ bao do cơ quan giám định hoàn lại đã niêm phong; Trả lại Phạm Đức C 1 điện thoại Nokia. Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 6, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Đức C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


237
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về